Cái chết của đề án 112 là một điều được báo trước - và từ rất sớm, ngay khi mà nó được hình thành. Định viết một bài về thất bại của đề án này khi hay tin, nhưng sau hơn một tuần “luẩn quẩn”, hôm nay quyết định là sẽ tạm bỏ qua chủ đề này vì mình không theo dõi nó từ đầu, không phải là người trong cuộc và lại chẳng có đủ thông tin để tìm hiểu (trên trang chủ của đề án 112 chỉ một vài văn bản đáng chú ý mà không có chi tiết về những bước tiến của đề án). Trong bài viết này tớ sẽ không đi sâu vào phân tích những lý do dẫn đến thất bại của đề án, mà chỉ ghi lại nhận xét của tớ và liệt kê những thông tin mà tớ thu thập được để khỏi lãng phí thời gian mình bỏ ra tìm hiểu và với hi vọng là những thông tin này sẽ giúp ích cho các bạn muốn tìm hiểu thêm.
Đã có một vài lý giải về nguyên nhân dẫn đến thất bại của đề án này, chủ yếu xoay quanh cái khái niệm “phần mềm dùng chung” và hạ tầng cơ sở, hay là từ khía cạnh quản lý. Tuy nhiên, theo tớ, những nguyên nhân trên chỉ là hệ quả tất yếu phát sinh, còn nguyên nhân chính là từ một chủ đề mà tớ đã đề cập cách đây không lâu: Đề án 112 là một dự án chết:
Bạn có thể hiểu về khái niệm “Death March project” như là những dự án mà thất bại là kết quả tất yếu. Thất bại ngay từ đầu - thậm chí ngay từ khi cái ý tưởng về dự án hình thành trong đầu người đứng đầu.
Càng đọc về những bài viết phân tích về lý do thất bại của đề án này càng thấy giống với những mô tả trong cuốn sách về những dự án chết (Death March Projects). Theo tớ, việc đặt mục tiêu quá lớn và bao quát đã làm che khuất những chi tiết nhỏ mà chúng ta chưa có vốn cần thiết để thực hiện những điều “to lớn” đó. Điều đó khiến cho đề án càng đi sâu càng gặp nhiều vấn đề (cứ tưởng tượng cấu trúc “cây dữ liệu” khi mà càng đi sâu, số nhánh con càng nhiều) và đến một lúc việc đi hết những nhánh con trở nên bất khả thi. Khi đó, một quyết định ”chấm dứt” như của thủ tướng vừa qua là một điều tất yếu của bất kỳ “thuật toán” nào.
Ý tưởng xây dựng một đề án mới với ý tưởng tương tự chắc chắn là một trò cười và sẽ không bao giờ thành công, bởi thất bại của đề án trước không phải là ở quá trình thực hiện, mà là ở chính cái ý tưởng đó. Vậy chẳng lẽ chúng ta sẽ không bao giờ có được cái gọi là “chính phủ điện tử”? Không dám đưa ra chiến lược dài hạn, nhưng về mặt ngắn hạn, tớ cho rằng trong giai đoạn sắp tới, hãy tập trung xây dựng mô hình quản lý thông tin điện tử cho 2 thành phố lớn của đất nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chính Minh thành một mạnh chia sẽ thông tin chung bởi đây là những nơi có đủ cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin cũng như việc quản lý thông tin. Sau đó, lần lượt kết nối những thành phố trọng điểm khác vào mạng này.
Dưới đây là những thông tin mà tớ thu thập từ trang chủ của đề án, cũng như những phân tích trích từ các báo trong thời gian qua.
Những văn bản thành lập
Trên trang chủ của đề án 112 tớ tìm thấy một số văn bản chính thức trong những ngày đầu của đề án này. Vì hiện đề án này đã bị dừng và rất có thể trang web này sẽ bị tháo bỏ trong thời gian sắp tới, tớ đã lưu lại những văn bản này dưới dạng file PDF (rất nhiều văn bản sử dụng font chữ ABC - vốn không phải ai cũng có nên chuyển sang định dạng PDF sẽ tránh được vấn đề này) để các bạn tiện theo dõi, cũng như sau này nếu có điều kiện viết bài về chủ đề này. Với mỗi tài liệu, tớ tóm tắt ra một vài chi tiết mà tớ cho là “thú vị”.
- Ban điều hành hoạt động dưới hình thức kiêm nhiệm. Giúp việc cho ban điều hành có Tổ thư ký và Tổ chuyên môn (đếm trên trang web của Đề án 112, có khoảng 9 tổ như vậy, bao gồm Tổ kế hoạch, Tổ thư ký, Tổ chuyên môn, Tổ hệ thống thông tin, Tổ website, Tổ chuẩn hóa hệ thống, Tổ đào tạo, Tổ CSDL Quốc gia, Tổ hành chính)
- Ban điều hành họp thường kỳ mỗi tháng 1 đến 2 lần. Nội dung các cuộc họp chủ yếu về tình hình thực hiện, thảo luận tập thể các vấn đề chuyên môn thuộc trách nhiệm của Ban điều hành, kiến nghị chính sách, …
Tớ không chắc lắm thật sự ban điều hành có họp mỗi tháng 1 đến 2 lần hay không, nhưng với chừng đó “tổ” thì mỗi cuộc họp có lẽ phải là cả ngày. Mặc khác, ấn tượng của tớ về dự án này là mọi thứ đều tập trung ở một nhóm người và những quyết định có lẽ được đưa ra từ thông tin ở những bộ phận thấp hơn.
Đánh giá thực trạng (2002):
- Hệ thống thông tin quá tải, thiếu đồng bộ
- Chế độ báo cáo lạc hâu gây khó khăn trong việc xử lý và tổng hợp
- Thông tin sử dụng thiếu độ tin cậy dẫn đến tình trạng gây mất mát những thông tin thứ cấp đáng ra phải có để phục vụ cho việc ra quyết định quản lý, điều hành của bộ máy và Chính phủ.
- Tình trạng cát cứ thông tin (tức thông tin và dữ liệu tồn tại riêng lẽ, không liên kết)
- Thông tin không được phổ biến hoặc phổ biến chậm và không theo chuẩn gây khó khăn cho việc đối chiếu, so sánh quốc tế
Việc quản lý thông tin, như nhận xét của chính văn bản, chỉ là một yêu cầu cần có trước khi thực hiện đề án 112:
[…] cho nên chết độ thông tin báo cáo không đáp ứng được yêu cầu triển khai Đề án 112 và bảo đảm cho việc xây dựng Chính phủ điện tử […]
Và đó là lý do Đề án Chuẩn hóa ra đời - và nó được gộp chung thành một phần của đề án 112.
Thành thật mà nói, tớ thật sự ngạc nhiên là bộ máy chúng ta vẫn hoạn động cho đến ngày nay với chừng đó vấn đề. Tớ vẫn hay ngạc nhiên khi nghe tin một thủ phạm một vụ án chạy từ tỉnh này sang tỉnh khác rồi vẫn bị bắt chỉ với thông tin về tình hình tạm trú tạm vắng ở địa phương (mọi người đều biết rằng những thông tin này chỉ được lưu trên giấy, và không phải ai cũng làm)
Những vấn đề cần giải quyết trước khi thực hiện đề án Chính phủ điện tử:
- Xây dựng chế độ thu thập, báo cáo thông tin thống nhất và hiệu quả
- Làm thay đổi các tập quán và thói quen làm việc tùy tiện. Việc tổ chức thực hiện các biện pháp này một cách đồng bộ và thống nhất trên cả nước là một yêu cầu bắt buộc để có thể thực hiện tin học hóa.
- Tập làm quen cho mọi cán bộ, công chức nhà nước với việc xử lý công việc hàng ngày qua các thiết bị công nghệ thông tin và dịch vụ mạng.
- Xây dựng hệ thống thông tin tác nghiệp được chuẩn hóa, cập nhật, đáng tin cậy để mọi người dùng chung.
Có một vài chi tiết đáng để ý trong những ghi nhận trên. Trước hết, việc yêu cầu tổ chức các biện pháp thay đổi tập quán và thói quen làm việc một cách đồng bộ và thống nhất trên cả nước là một điều không thể (nếu như tớ hiểu đúng: “đồng bộ” nghĩa là cùng một lúc, và “thống nhất” nghĩa là theo cùng một cách). Thứ hai, ở thời điểm năm 2002, việc tập làm quen cho mọi cán bộ sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin là một yêu cầu lãng phí và không thực tiễn. Điều này được chứng tỏ qua thất bại của những khóa huấn luyện tin học tập trung mà người học sau khi đi về cũng chẳng bao giờ sử dụng đến những kỹ năng đó. Đơn giản là đâu phải ai cũng cần tiếp xúc với các thiết bị công nghệ thông tin?
Và cuối cùng, một chi tiết thú vị nữa là thuật ngữ “dịch vụ mạng” (web service) đã xuất hiện trong một văn bản năm 2002. Không rõ cái khái niệm về dịch vụ mạng lúc đó có giống bây giờ không?
Điều mà tớ suy nghĩ khi đọc văn bản này là: vậy ra, suốt 5 năm qua, chúng ta cũng chỉ đang loay hoay trong bước chuẩn bị? Và thậm chí, xét từ tình hình hiện tại thì chúng ta vẫn chưa xong.
Về vấn đề chuẩn hóa:
Chuẩn hóa là một nhiệm vụ quan trọng và đã được xác định trong QDD112, cho nên đây là một nhiệm vụ khoa học, công nghệ chứ không phải là một đề tài khoa học, công nghệ. Vì vậy, cần phải tổ chức thực hiện nhanh chóng; tuy nhiên cần thực hiện theo hướng không cầu toàn, những gì làm được thì làm ngay, còn những gì chưa thể thực hiện được thì định hướng, quy hoạch.
Có thể tớ sai, nhưng tớ cho rằng việc chuẩn hóa lại nên làm cẩn thận và có tính toán (tức là theo một cách nào đó là tương đối “cầu toàn”) bởi cấu trúc dữ liệu một khi đã được xác lập là khó thay đổi. Mặc khác, ngay cả theo nhận định này thì có lẽ chúng ta đã đi sai những định hướng ban đầu: cho đến bây giờ, phần lớn những thành quả của Đề án 112 chỉ là những “đề tài nghiên cứu” trên giấy tở. Tớ không chắc lắm đã có những thông tin nào thật sự đã được chuẩn hóa chưa.
Nhiệm vụ năm 2004-2005
Phần này trong văn bản ghi chi tiết về các đề án con thuộc đề án chuẩn hóa, trong đó ghi rõ thời gian “ước tính” cũng như kinh phí dự trù cho mỗi đề án. Những con số này được đưa ra mà không kèm theo bất kỳ lý do nào. Tớ lựa chọn một vài cái ghi ra dưới đây:
- Chuẩn hóa việc hội họp giao ban trên mạng: 12 tháng
- Chuẩn hóa tin học hóa các dịch vụ hành chính công: 7 tháng (200 triệu)
- Chuẩn hóa các loại hình trang tin điện tử: 7 tháng (200 triệu)
Tổng kinh phí dự kiến cho các nhiệm vụ chuẩn hóa trong 2 năm 2004-2005 là 50 tỷ đồng.
Đây đúng là một tài liệu về Software Engineering - một kiểu báo cáo khảo sát có cấu trúc (tớ từng học một môn tương tự nhưng ấn tượng của tớ là chán ngắt), trong đó đáng chú ý là một số thông tin:
Xây dựng phần mềm ứng dụng
Thuê đối tác xây dựng với một số yêu cầu khá khắc khe, ngoài việc phải xây dựng phần mềm ứng dụng theo đúng hồ sơ phân tích thiết kế đã được duyệt:
- Phải xây dựng quá trình cài đặt
- Phải xây dựng bộ dữ liệu giả định dùng để kiểm tra ứng dụng
- Phải thực hiện xây dựng ứng dụng, kiểm tra, và đóng gói từng phiên bản của ứng dụng
Tớ không rõ công ty nào nhận được gói thầu xây dựng các ứng dụng cho đề án 112, nhưng nhìn khối lượng công việc thì có lẽ không một công ty riêng lẽ nào ở Việt Nam có thể đảm nhận tất cả các phần mềm này được.
Những nguyên nhân
Dưới đây là những nguyên nhân tớ trích từ các nguồn trên mạng. Cá nhân tớ sẽ không đưa ra lý giải gì ngoài nhận xét rằng Đề án 112 là một ví dụ của những dự án chết mà tớ đã mô tả trong một bài viết cách đây không lâu.
Về mục tiêu
Trong bài viết “Dự án 112 và những đề xuất” đăng trên Tạp chí Thế Giới Vi Tính Việt Nam, một trong những nguyên nhân cơ bản nhất được đưa ra là sự bao quát quá rộng của mục tiêu ban đầu:
Những mục tiêu chính của Đề Án này là “đến cuối 2005, đưa hệ thống thông tin điện tử của Chính Phủ vào hoạt động”, “thúc đẩy mạnh mẽ việc hiện đại hóa công nghệ hành chính”,”thực hiện tin học hóa các quy trình dịch vụ công…”, “hoàn thiện và thống nhất áp dụng các phần mềm dùng chung và xây dựng, tích hợp các CSDL quốc gia…”. Đây là những mục tiêu đúng, cần thiết nhưng lại quá lớn và không xác định rõ mục tiêu chính nằm ở đâu.
Về phần mềm dùng chung
Đề án được xây dựng khi mà chúng ta chưa có cái “nền”:
[…] khái niệm “phần mềm dùng chung” sinh ra từ nhận xét đúng đắn là bộ máy hành chính trong toàn quốc sẽ mạnh hơn nhiều nếu tất cả các đơn vị hành chính cấp bộ, ngành và địa phương đều sử dụng chung một số phần mềm phục vụ quản lý hành chính nhà nước. […] Các phần mềm dùng chung chỉ có nghĩa khi chúng được thiết kế dựa trên các quy trình quản lý hành chính nhà nước chuẩn. Hiện nay các quy trình đó dều đang trong trạng thái cải cách (chưa chuẩn) thì các phần mềm dùng chung sẽ dựa vào đâu để xây dựng?
Dự án 112 và những đề xuất
điều đó dẫn đến việc mỗi tĩnh tự xây dựng một hệ thống riêng của mình (chờ thì bị xem là chậm, không triển khai - nhưng nếu triển khai thì tất nhiên họ sẽ xây dựng dựa trên những gì họ có):
[…] Có những phần mềm dùng chung được lấy qua đấu thầu, nhưng cũng có những phần mềm do địa phương tự xây dựng. Đã có rất nhiều tỉnh đề nghị là được sử dụng phần mềm của họ chứ không sử dụng phần mềm chung đã có trước đây. Kết quả là ý tưởng xây dựng những phần mềm dùng chung, thống nhất trên cả nước của đề án 112 bị đổ vỡ.
Chương trình 112: Đã có những cảnh báo sớm về sự bất cập
Ngay cả những phần mềm “dùng chung” vẫn không tương thích với nhau:
Cụ thể là những phần mềm dùng chung được đề án 112 triển khai còn kém hơn những phần mềm đã triển khai ở một số đơn vị của TP.HCM. Đã gọi là phần mềm dùng chung nhưng lại do các công ty phần mềm khác nhau xây dựng và triển khai tại các tỉnh. Hiện nay các phần mềm dùng chung đã chỉnh sửa nhiều lần nhưng vẫn chưa dùng được.
Đề án 112: Lãng phí và bất ổn?
Về vấn đề chuẩn hóa
Hai là khái niệm “Trung Tâm Tích Hợp Dữ Liệu” (TTTHDL) được giải nghĩa bằng lập luận mang tính chất định tính hơn là định lượng. Theo đó, TTTHDL sẽ phá vỡ thế cát cứ dữ liệu - nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng “trên bảo dưới không nghe” (vì cát cứ dữ liệu nên trên cũng không biết chính xác dưới đang làm gì). Tuy vậy, điều mà mọi người quan tâm là trung tâm này sẽ hoạt động như thế nào và cơ chế tích hợp dữ liệu sẽ vận động ra sao thì không ai hình dung ra cả. Trạng thái này còn kéo dài vì trong tháp dữ liệu hành chính, ở đáy của nó, các CSDL nền chưa hình thành, ngay cả việc chuẩn hóa dữ liệu cũng còn đang tranh luận… thì lấy gì dể tích hợp?
Dự án 112 và những đề xuất
Khi mà yêu cầu triển khai đồng loạt không dựa trên một cơ sở vững chắc:
Một số địa phương như TP.HCM, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Vĩnh Long… đã thử nghiệm và thực hiện tốt mô hình của họ, nhưng không thể áp dụng mô hình đó cho những tỉnh khác. Đề án 112 muốn áp đặt những mô hình cụ thể, mà lại không có những mô hình cụ thể với từng địa phương, vùng miền, bộ ngành. Nói cách khác, đề án 112 chưa xây dựng được một mô hình thử nghiệm tốt mà đã triển khai đồng loạt, nên việc không đạt được những mục tiêu là điều tất yếu!
Chương trình 112: Đã có những cảnh báo sớm về sự bất cập
Về vấn đề quản lý:
Chức năng và quyền hạn:
Theo Ủy ban Khoa học - công nghệ và môi trường Quốc hội, sở dĩ đề án 112 không đạt được mục tiêu bởi dù ban điều hành không có chức năng quản lý nhà nước về CNTT nhưng vẫn tổ chức thẩm định các dự án phần mềm và hướng dẫn ban điều hành các tỉnh thẩm định thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, trái với nghị định, qui định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, tạo nên tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” trong đầu tư CNTT. Thậm chí, Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT cũng không chỉ đạo, bao quát được đề án 112.
Đề án 112: ban điều hành “vừa đá bóng vừa thổi còi”
Người làm sai việc:
Người thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về qui trình xử lý hành chính, các đặc thù công nghệ trong ứng dụng tin học mà lại được giao nhiệm vụ triển khai ứng dụng CNTT rất dễ đi đến sự lựa chọn sai giải pháp, theo cảm tính, chủ quan, thậm chí có yếu tố tiêu cực…
Chương trình 112: Đã có những cảnh báo sớm về sự bất cập
Và viễn cảnh của một dự án chết thứ 2
Trong bài phỏng vấn với thứ trưởng bộ bưu chính viễn thông, trả lời cho câu hỏi “thời gian tới việc ứng dụng CNTT trong hoạt động các cơ quan nhà nước sẽ phát triển theo hướng nào?”, ông Vũ Đức Đam trả lời:
Chúng ta sẽ xây dựng một chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước theo đúng quy định tại Nghị định 64 mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó có thể có rất nhiều dự án khác nhau nhưng điều quan trọng là tất cả dự án phải đồng bộ để hướng tới một khối thống nhất. Đây là chính là một giải pháp tiết kiệm.
Một lần nữa, cái ý “có rất nhiều dự án khác nhau” và “tất cả các dự án phải đồng bộ” không khỏi đưa tớ đến viễn cảnh sẽ có một “dự án chết” thứ 2 đang chờ sẵn.