(Viết để chia sẻ với chị Hiền Hoà, Đà Nẵng)

Chị tình cờ gặp anh tại cuộc triển lãm khoa học thành phố biển. Hôm đó, sau giờ đứng lớp, buồn chán với lũ học trò đi chân trần khó dậy, không biết làm gì, chị đi tha thẩn một mình nhìn biển động với những con sóng lăn tăn xô bờ, những chiếc thuyền thúng nhấp nhô xa xa và gặp anh. Anh quen chị như cơn mưa đầu mùa chợt đến sau những ngày nắng gắt, để lại dư vị ấm áp nhẹ nhàng. Ở vào tuổi xấp xỉ 30 như chị, có một mối tình để nhớ nhung đã là chuyện hạnh phúc. Có một người yêu thương mình càng là chuyện “Thiên hạ đại sự” nói như chị Bích làm chung phòng mỗi khi ngán ngẩm cảnh phòng không đơn chiếc của chị. Nhưng giữa đại sự và đại loạn chỉ cách nhau một khoảng nhỏ. Anh công tác ở xí nghiệp cơ khí tầu biển, mồ côi cả cha lẫn mẹ nên cuộc sống cũng khá vất vả.
Nhà chị chỉ có hai mẹ con (Thật ra chị còn một đứa em học bên hàng hải, nhưng tối về là nó lại đàn đúm bạn bè, ít khi thấy mặt). Lúc nào đến thăm chị, anh cũng mang theo một ít trầu cau, hoặc những thứ lặt vặt dành cho người có tuổi. Rõ ràng, anh như con chim báo tin vui, mang mùa xuân lại cho cả gia đình.
Một hôm anh ngỏ lời cầu hôn với chị, chị nhận lời, và đám cưới tổ chức đơn giản ở cơ quan của anh. Anh ở nhà chị một thời gian rồi cả hai dọn lên căn phòng được được cấp ở lầu hai vừa tối vừa ồn tại một chung cư cũ kỹ. Đi đứng, lên xuống ở đây thật khó khăn, nhưng anh bảo: “Nhà cấp không ở thì phí đi. Giữ chân để sau này có cái mà đổi”. Giấc mộng là vậy nhưng thực tế rất xa vời.

Sống đời sống vợ chồng, anh xem chị như một món đồ dễ vỡ. Cái gì anh cũng giành làm. Lăm lúc thấy chị đạp xe lọc cọc đến trường cách nhà hai, ba cây số, anh xót xa “phải chi anh có cái xe gắn máy em sẽ đỡ mệt hơn”. Hoặc thấy chị ngồi soạn bài ở góc nhà, anh áy náy “phải chi nhà có cái phòng riêngcho em làm việc. Cái nghề chữ nghĩa không thích hợp với môi trường ẩm thấp chút nào”. Chị chỉ cười cảm thông với anh. Đàn ông nào chẳng thế, chẳng muốn chứng tỏ cái tôi của mình, ngay cả lúc đang ngã ngựa, gẫy kiếm. Họ chết vì chính sĩ diện của họ mà lắm khi không biết.
Ngoài giờ làm việc, anh thường mầy mò nghiên cứu những đề tài khoa học, miệt mài đến quên ăn ngủ. Cũng có một lần anh đem về cho chị 50.000 đồng và vài tấm giấy khen có đề tên mình. Nhưng anh chỉ là thành viên của nhóm 3 người mà 2 người kia “ngồi mát ăn bát vàng”. Cơ quan anh còn lắm chuyện buồn cười như thế nữa. Tội thì chịu một người, công qủa thì chia đủ. Riết rồi anh cũng chán, đồ đạc anh bỏ bứa ở góc phòng, búa kềm, dầu mỡ, giấy má lổn ngổn.
Anh chị có một đứa con gái sinh thiếu tháng nhưng kháu khỉnh.

Cuộc sống nào cũng có cái lao đao riêng của nó. Càng về sau tính tình anh càng trở nên thất thường. Anh ít trò chuyện với vợ con hơn. Thỉnh thoảng anh có đùa với bé Thảo một tí, hỏi chị tuần này dậy học thế nào, có thằng ranh nào chọc ghẹo không, có cho con đi chủng ngừa chưa. Rồi anh lại rút lên cái lô cốt của mình ở góc phòng, sống vật vờ như mất hết ý thức về một người chủ trong gia đình.
Phải nhìn thấy anh trong hoàn cảnh như vậy, chị thấy rất khổ tâm. Chị cố gắng tìm cách dọ hỏi bạn bè anh xem nguyên nhân nào đã biến anh từ một con người năng nổ, lớp lang bỗng trở thành ù lì, cẩu thả. Nhưng họ chỉ nhìn chị ái ngại. Có kẻ nói anh và tay trưởng phòng kình chống nhau. Anh có nói điều gì đó gây mất đoàn kết nội bộ. Thậm chí có người nói anh đang chuẩn bị chuyển sang một công việc khác. Toàn là những dự báo xấu cho anh, nhưng đó cũng chỉ là tin đồn, dù là những tin đồn không dành cho kẻ hèn nhát và yếu bóng vía.
Sống trong căn phòng chỉ có hai người mà phải vờ vịt với nhau là một việc còn khó hơn lên trời. Thật ra cái chị sợ nhất là mất đi cuộc sống êm ả này, cái hạnh phúc mong manh mà đến hết nửa đời người chị mới được hưởng. Nghĩ đến chuyện phải trở lại căn nhà cũ, sống với những kỷ niệm đã thối rữa, buồn chán của một đời con gái, chị thấy kinh sợ. Người mẹ chẳng thể nào mang lại cho chị sức sống như anh đã làm. Hai mẹ con chỉ thỏa hiệp được với nhau trong một chừng mực nào đó.
Cả nửa năm trời chị và anh cứ chơi trò cút bắt như thế. Người này cố làm ra vẻ bình thường để đánh lừa người kia. Lừa dối nhau mãi rồi có lúc chính mình cũng tưởng đó là sự thật. Thời gian đưa tất cả những bất hạnh và niềm vui lùi vào qúa khứ.

Đùng một cái, sáng hôm đó đi mua sữa cho con về, chị thấy anh đang thu gom sách vở, quần áo, một vài món đồ lặt vặt cá nhân. Anh xếp hết vào chiếc túi vải đã cũ giống như kẻ hoang tưởng quên mất sự hiện hữu của mình. Anh thấy chị, nhìn chị và nói: “Anh đã chuyển qua bên vận tải biền. Hôm nay anh có chuyến đi xa hơn một tháng mới về. Tiền bạc anh để sẵn cho em trong ngăn kéo, đủ cho hai mẹ con chi dùng và phòng thân. Ráng giữ sức khoẻ, rảnh thì về thăm mẹ, đừng lo cho anh”. Lần đầu tiên nghe anh nói bằng lời trối trăn, ly biệt khiến chị hết sức thảng thốt. “Sao anh không báo cho em biết trước. Em còn lo cho anh một ít lương khô”. Anh cười “Anh xin lỗi em, nhưng ở đó có đủ cả”. Chị đưa cho anh ly sữa, nét mặt anh báo cho chị biết anh có điều gì suy nghĩ. “Anh uống sữa đi cho khỏe”. Anh uống cạn ly sữa, nhìn xa xăm qua bên kia đường vào khoảng không: “Có nhiều điều anh chưa nói hết với em. Nhưng em cứ tin là anh không làm gì trái với lương tâm anh cả!”. Nghĩ gì đó, hai bàn tay anh nắm chặt vào nhau, mắt long lên. Chưa bao giờ chị thấy anh dữ tợn như thế. “Cũng chỉ anh lo đuổi theo cái mù mờ, hư ảo, để mẹ con em phải khổ!”. Anh đập tay xuống bàn: “Cuối cùng thì anh được gì nào…”. Anh lầm bầm câu gì đó như người mất trí rồi chạy xuống cầu thang. Cái va ly nặng trĩu làm anh gập người. Trái tim chị thắt lại.

Sáng hôm sau ngày anh đi, ảnh hưởng trận bão lớn ngoài biển đông làm cả thành phố muốn bật tung lên vì gió lộng cấp 9 cấp 10. Mây đen dội xuống những cơn mưa nặng hạt , nước tạt vào cửa sổ buốt lạnh. Mưa dầm dề cả ngày không ngớt. Chị xin nghỉ dậy vài ngày vì bé Thảo ốm. Ôm đứa con vào lòng nằm trên chiềc võng đong đưa chỗ cầu thang nghe mưa vần vũ, chị thầm mong anh an bình trở về.
Mấy ngày tiếp theo, cơn bão vẫn không ngừng. Đường sá lầy lội, ngại đi, ngại đứng Thỉnh thoảng chị nhờ người bạn phòng bên mua ít thức ăn về ăn cho qua bữa. Ngồi bên chén cơm nguội lạnh, nhớ đến anh, lòng chị buồn rười rượi. Phải chi chị có tiền, giàu có, gia đình chị khá gỉa thì anh đâu phải khổ, phải nhẫn nhục chịu đựng. Nếu cần anh có thể nghỉ việc. Những đêm tiếp theo, cứ nằm ngủ, nhắm mắt lại là chị mơ thấy anh. Cũng cái dáng đi lỏng khỏng gầy gò và đôi mắt sáng. Có lúc đột ngột bừng dậy trong đêm, chị lạnh toát cả người vì một linh tính xấu trong đầu. Cơn bão khủng khiếp ở biển Đông và anh cứ quyện vào nhau, không dứt ra được.
Rồi chuyện gì đến cũng phải đến. Một ngày chị nhận được tin sét đánh báo anh đã mát tích cùng với con tầu của mình. Kinh hoàng, chị ôm chầm lấy người bạn đưa tin và khóc ngất như một đưá trẻ.