ĐỀ THÁM
(1862 - 1913)
"Quốc-gia hưng-vong, thất phu hữu-trách"; sự vong-tồn của một nước chẳng những dựa vào hàng trí-thức, mà người ít học cũng có một phần trách-nhiệm ở trong. Vì vậy, ta thấy trong cuộc kháng Pháp có những người học rộng thấy xa, mà cũng có người cùng đinh thất học. Hoàng-hoa-Thám là một người ít chữ; Cụ Cường-Đề là một vị điện hạ vương-tôn, chứng minh rằng khi nước nhà bị trị, thì mọi tầng lớp nhân dân đều chung lo giải thoát.
Đề-Thám tên thật là Trương-văn-Thám. Cha mất sớm, mẹ tái giá, Thám phải đi chăn trâu nuôi mình. Ở vùng Yên-Thế, Thám có học võ với thầy Tàu, ít người địch nổi.
(Dưới đây là bản chiết sao lại trong quyển "Tiểu truyện danh nhân" của "Cố Nhị-Tân" nói về Đề-Thám). .
Bấy giờ tuy ở phía Trung-châu, cờ xanh trắng đỏ của Pháp đã khoe màu, nhưng về miền Thượng-du, mặt thì có cờ vàng của Hoàng-sùng-Anh, mặt có cờ Đen của Lưu-vĩnh-Phúc cũng phấp phới tranh-hùng. Năm 29 tuổi, Thám xuống Bắc Ninh, xin đăng vào đội nghĩa-quân của lãnh-binh Trần-quang-Soạn. Nhờ có sức khỏe và võ giỏi, ít lâu Thám được lên chức lãnh-binh, chỉ huy một toán quân chống Pháp. Nhưng vì không đủ khí giới, nên thất bại. Thám trở về Yên-Thế giúp Bá-Phức (Trần-văn-Phức) là một tay hào-phú trong miền, có kiến-thức lại thạo nghề binh.
Ngày 12 tháng 3 năm 1884 (giáp thân), quân Pháp lấy Bắc-Minh, Bá-Phức nổi lòng căm-phẫn quyết chí Cần-Vương, bèn tế cờ khao quân, đem đại-binh xuống miền xuôi để đánh Pháp. Được vài trận, đạo binh của Phức tan vỡ, Bá-Phức cùng Thám chạy sang Tàu nhập bọn với Cai-Kinh, tức Hoàng-đình-Kinh, cựu cai tổng.
Cai-Kinh là dư đảng của Cai-Vàng. Từ khi Cai-Vàng chết, Cai-Kinh sang Vân-Nam, cố chiêu tập binh mã mong nối chí thầy. Gặp Thám, Cai-Kinh nhận làm tâm phúc và cách ít lâu sau, đem bộ hạ về nước chiếm mấy rặng núi miền thượng du sông Thương. Thám được cử là Đề-đốc coi một toán quân khá lớn, nên được gọi là Đề-đốc Thám nói tắt là Đề-Thám. Nhưng đương lúc công việc chưa xếp đặt xong, Cai-Kinh bị một người trong đảng ám hại (6-7-1888). Thám bèn thâu nhặt ít nhiều tàn quân, từ biệt Bá-Phức, kéo về miền xuôi, quyết định một phen tung-hoành cho phỉ chí.
Thoạt tiên Thám cướp huyện Việt-Yên để lấy súng đạn, rồi đánh phá huyện Hiệp-Hòa, Võ-Giàng, Quế-Dương, v.v...
Chánh phủ Pháp phái quan quân chia đi các ngả đón bắt rất ngặt, Thám phải rút về phủ Lạng-Giang, nhưng vẫn bị tìm đánh kịch liệt. Thám mất hết quân, lận đận một mình, tìm đường lẫn tránh.
Chánh quyền thông-sức đi các nơi: "Ai bắt được Đề-Thám sẽ được trọng thưởng. Ai giấu giếm Đề-Thám sẽ bị phạt nặng". Vì vậy mà từ thành thị đến thôn quê, không mấy người là không biết danh tiếng Đề-Thám.
*
* *
Thám nghĩ xứ giữ tên họ cũ, hình dạng cũ, thì khó lòng thoát lưới, bèn cạo tóc để râu, đổi tên là Hoàng-Hoa-Thám. Ba chữ Hoàng-Hoa-Thám bắt đầu xuất hiện từ đấy. Thám còn trá hình nhiều cách: lúc áo cà-sa, nón tu mạng, hiền lành như một thầy tu; lúc tay xách nải, vai quẩy bồ, lật đật như một lái buôn; lại có lúc tay bị, tay gậy, quần áo rách bẩn, tả tơi như một kẻ hành khất. Nhờ trá hình, Thám đã lọt lên miền thượng-du, giao thiệp với dân Thổ, Mán. Trong khi lẩn tránh Thám vẫn không quên chí lớn, nếu có cơ hội, vẫn ngấm-ngầm rủ người vào đảng.
Năm Kỷ-Sửu (1889) Thám lẩn lút tại chùa Định-Tảo (thuộc Nhã-Nam), chiêu tập được khá đông đồng chí, khí giới đạn-dược cũng thu thập được nhiều, liền làm lễ tế cờ, cử những người có khả năng vào trách nhiệm quan trọng: Lãnh-Huân làm chánh tiên-phong, Ba-Biểu làm phó tiên-phong, Sư Định-Tảo làm phó chỉ-huy. Cuối tháng tư năm ấy những người nầy đem một cánh quân xuống đóng ởlàng Chương-Văn, làm thế ỷ-giốc. Lại đặt ở nhiều địa-điểm trong các tỉnh Bắc-Giang, Thái-Nguyên, Vĩnh-phúc-yên.
Tung-hoành trong một năm trời, đồ đảng của Thám mỗi ngày một đông thêm, đã thành một đám quân lớn. Trong các yếu nhân có Cả-Dinh, Cả-Huỳnh, Cả-Trọng, Cả-Căn, Cả-Hoành, Hai-Xuân, Ba-Biểu, Tư-Sáu, Năm-Tý, Tám-Chinh, Cửu-Cam, Mười Phong, Cai-Sơn, Bang-Kinh, Lý-Thu, Đốc-Hầu, Đốc-Hiền, Đốc-Kế, Đốc-Thu, Đốc-Xuyết, Lãnh-Túc, Lãnh-Huân, Quan-Phúc, Thông-Luận (Thân-đức-Luận), Thông-Trù, Thuyết-Vân, Tông-Chu, Trần-Thanh, Đề-Công, Đề-Bảo, Đề-Huỳnh, Đề-Kiều (Hoàng-Thụy-Kiều), Nho, Cao, Cam, Tinh, Sôi, Tê v.v... Những tay sai luồn rừng sang Quảng-Tây mua được nhiều súng đạn và kết thân với bọn quan Tàu. Thám lại cưới được người vợ thứ ba tên là Đặng-thị-Nhu, em nuôi Thông-Luận, thường gọi là cô Ba, có đảm lược và võ nghệ.
Chính quyền phái trung-tướng Tarre, đại-tá Piessier và trung-tá Mayer đem quân tiểu trừ. Quân Thám trận đầu thua to phải rút vào rừng Hữu-Thê. Đây là một khu rừng lớn bao trùm nhiều đồi núi, thung-lũng, địa thế rất hiểm-trở. Thám cho xây pháo đài, đào chiến-hào, mở đường lối, xếp đặt căn cứ nầy rất vững.
Sở dĩ Đề-Thám đã biến Yên-Thế thành nơi kháng chiến trường kỳ, là vì Yên-Thế thuộc miền trung-du, nằm giữa dãy núi đá Cai-Kinh và dãy núi trùng điệp ở thượng-lưu sông Thương và sông Cầu, gồm hai vùng Thượng-Yên và Hạ-Yên. Thượng-Yên là rừng sâu rậm rạp, còn Hạ-Yên là đồng bằng có thôn xóm khá đông rải rác trên nhiều ngọn đồi. Rừng Thượng-Yên nhiều tre nứa và chằng chịt, cây cối dầy rậm nhiều muỗi mòng rắn rết, nhất là vắt, chỉ trong ngáy mắt đã bám đầy người, chướng khí bao bọc quanh năm. Lợi dụng nơi hiểm địa, Đề-Thám rèn luyện binh sĩ cho quen đường lối để dễ bề tiến thoái.
*
* *
Toàn quyền De Lanessan, và thống-tướng Duchemin lại phái đại binh mở cuộc tiễu trừ. Tháng 4 năm Nhâm-Thìn (1892), quan quân liều mình xông vào rừng rậm để phá tan sào huyệt của Thám. Tuy Thám chống cự rất dự, rốt cuộc quan quân cũng phá được, Trung-tướng Henry, đại-tá Lecière bị thương, trung-úy Holstein, Vigneron, Becquet tử trận.
Thám rút tàn quân về ở rừng Yên-Thế, lại bí mật mua súng đạn và chiêu dụ đồ đảng.
Qua năm 1893 đảng Thám lại đông, súng đạn dự bị khá nhiều, Thám kéo quân xuống miền Lang-Giang, Việt-Yên, Võ-Giàng đánh phá đồn lính và phủ-huyện. Tổng đốc Bắc-Ninh Lê-Hoan được Pháp giao cho 800 quân, đến đóng ở đồn Cao-Thương. Trước khi giao-chiến, Lê muốn dùng ngoại-giao để chiêu hàng, cho dư đảng Đề-Kiều vào sào huyệt của Bá-Phức để dụ Phức. Quân Cần-Vương khi đó đã tàn, những tướng già không còn chí quật cường nữa, nên cuối năm Thành-Thái thứ năm (1894), Bá-Phức thống-tướng quân Cần-Vương ở Hữu-Thế, cùng với bộ hạ mang khí giới ra đầu thú.
Lê-Hoan biết Bá Phức là cha nuôi của Đề-Thám, bèn cho y vào Yên-Thế thuyết phục Thám. Lê-Hoan hứa cho Thám sống độc-lập, nếu chịu qui thuận và đừng gây việc binh-đao, phương hại cho sinh mạng của dân Yên-Thế.
Thám yêu cầu được hội kiến với Lê-Hoan trước khi quyết định và đề-nghị Lê-Hoan hãy tạm rút quân đi nơi khác, trước đồn chỉ để một ít lính canh, phía sau mấy hàng tướng mà thôi.
Đúng giờ hẹn, Thám theo Bá-Phức mang 200 quân đến đóng ở ngoài xa, rồi cùng mấy thủ-hạ lực-lưỡng vào yết-kiến Lê-Hoan. Trong khi nói chuyện, Lê-Hoan để Đề-Thám và Bá-Phức ngồi cùng chiếu, lính hầu bưng lên một khay hai chén nước trà. Thám lễ-phép cầm một chén nước đưa cho người tùy tùng của Bá-Phức bảo uống, anh này vừa uống xong, lăn ra chết. Thám thản nhiên đứng dậy chào Lê-Hoan rồi cùng với thủ-hạ ung-dung ra khỏi đồn Cao-Thương.
Lê-Hoan chưng-hửng. Sau đó y lại bày mưu khác: sai Bá-Phức đem một quả bom vào sào huyệt để hại Thám, nhưng Thám lanh trí, lừa cho Bá-Phức đi rồi vội-vã tránh ra xa, để cho bom nổ phá tan tành và để Bá Phức yên-trí mình đã bị thiệt mạng. Sau đó Thám bất thần ra quân, làm cho hai viên đồn Trouvé và Lambert tử trận, công sứ Muselier bị thương, lính Tây và lính khố xanh thiệt mạng gần 30 người. Rồi Thám rút về Thái-Nguyên. Ở đây cũng thua luôn mấy trận nữa, quân binh, đạn dược đều hết cả. Thám lại ẩn núp trốn tránh.
Cách đó ít lâu, Thám chiêu dụ được nhiều đồ-đảng, cướp đồn Lạng-Giang lấy súng đạn, rồi kéo lên Thượng-Yên chiêu mộ quân-sĩ. Nhờ có Bang-Kinh trợ lực, lại thêm dân Thổ, Mán và khách Quảng-Tây phụ giúp nên thanh-thế chẳng mấy lúc lại lừng-lẫy. Pháo đài, quân trại, chiếm hào, được kiến thiết chu đáo ở Yên-Thế. Ở thân cây, ở sườn núi, đều thấy có kẻ những câu:
Ở đây là đất ông Đề,
Tây lên thì có, Tây về thì không.
Thăm ông chỉ có câu này,
Thề cùng giặc Pháp có mày không tao.
Nghĩa quân từ trong rừng sâu, cứ lần lượt mở rộng tầm hoạt động đến Đáp Cầu, khiến cho quân đội Pháp lúc nào cũng ở trong tình trạng báo động. Muốn cho đường tiếp-tế được dễ dàng và để xúc tiến việc đặt đường xe lửa Hà-Nội - Lạng-Sơn, toàn quyền De Lanessan ra lệnh cho quân-đội Pháp phải tận diệt Đề-Thám. Bên Pháp lại phái đại-tá Galliéni sang để đối phó quyết liệt. Galliéni đã từng tiễu trừ những nghĩa quân ở xứ Soudan mấy năm trước, lần đầu hành-quân ở đây bị ngay nghĩa quân giết chết đại úy Delaunay và nhiều binh-sĩ Pháp. Đại-úy Brodiez mất đường tiếp-tế lương thực và đạn dược, phải liều chết chạy về Trí-Lễ, bỏ lại cả quân trang, quân-dụng. Tuy thiếu tá Barre chiếm được Len-Đài, nhưng cũng không tiến xa hơn được nữa.Mãi đến tháng giêng năm 1894, sau khi chuẩn bị hẳn hoi, Galliéni mới quyết định trả thù, tấn công Lũng-Lạt, một địa điểm quan trọng của Đề-Thám, sau chiến khu Yên-Thế.Nhờ ở Lũng-Lạt nhóm nghĩa quân do Hoàng-Thái-Ngân chỉ huy có lẩn một bọn thổ phỉ hay làm mất lòng dân ở những vùng Vũ-Đích, Vũ-Sơn, Vũ-Lệ và Tam-Trì, quân Pháp liền võ trang cho dân địa phương tập kích. Do đó, khi đại quân Galliéni tấn công mãnh-liệt. Hoàng-thái-Ngân phải rút lui, bị thiệt hại nặng nề. Ba phía đều bị quân Pháp vây chặt, nghĩa quân cùng Thái-Ngân rời bỏ căn cứ Lũng-Lạt, rút lần lần về phía Vũ-Sơn, Vũ-Lệ, Vũ-Đích và Chợ Mới. Galliéni truy kích rất gắt, và tìm được dọc đường nhiều thây chết của nghĩa quân nằm ngổn ngang. Không may cho Hoàng-thái-Ngân, dân chúng ở những vùng kia đã oán hận những thổ-phỉ mà Thái-Ngân chứa chấp, nay thấy nghĩa-quân rút chạy, liền phục kích khắp nơi khiến Thái-Ngân tử trận và nghĩa-quân bị diệt rất nhiều. Đề-Thám ở Yên-Thế hay tin trễ mấy ngày sau mới cho nghĩa quân từ Trí-Lễ kéo đến tiếp viện Lũng-Lạt, nhưng đến Trấn-Yên thì bị quân Pháp chận đánh tan, vì Pháp quân Đông, có vũ khí tốt lại có trọng pháo yểm-hộ.Thế là Lũng-Lạt hoàn toàn rơi vào tay quân Pháp, Yên-Thế bị đặt trong thế nguy, vì Yên-Thế và Lũng-Lạt là hai nơi quan-trọng nhất của Đề-Thám. Nhận thấy lực lượng không thể nào đương đầu nổi với binh-lực của Pháp, Đề-Thám bèn nhờ giám mục Velasco đứng ra hòa-giải. Pháp ưng-thuận cho Thám cầu hòa. Lại nhân toàn-quyền De Lanessan bị chính phủ Pháp triệu hồi và cho Rousseau sang thay thế, Thám đưa ra hai đều kiện:
-Chính quyền Pháp phải trả cho Thám 15.000 đồng để chuộc hai người Pháp Chesnay và Logiou bị nghĩa-quân bắt trên công trường đường xe lửa.
-Chính quyền Pháp phải để cho Thám làm chủ một vùng đất gồm 22 làng với 2.600 xuất đinh, và thu thuế tất cả những ruộng đất ở vùng Yên-Thế.
Dù biết Đề-Thám đòi hỏi quá nhiều, nhưng nội bộ của chính-quyền Pháp đang bị lủng-củng, Pháp liền ưng chịu.
Hay tin chính-phủ Pháp nhượng bộ cho Đề-Thám, các kiều dân Pháp cũng như quân đội viễn chinh thảy đều phẫn-uất. Nhất là Galliéni tỏ ra vô cùng bất mãn. Tuy vậy, chính-quyền bảo-hộ cũng dư biết Thám cầu hòa đây chỉ là kế hoãn binh, nên vẫn phòng-bị và dự-trù sẵn kế-hoạch tấn-công Yên-Thế.
* *
*
Về phía Đề-Thám, bề ngoài tỏ ra trung thành với những lời cam kết với Pháp, nhưng bên trong vẫn âm thầm tăng-cường lực-lượng ở Yên-Thế, lại cho người đột nhập vào hoạt động trong hàng ngũ các đội binh Pháp để sau này dễ bề toan tính việc nội công ngoại kích. Vào năm 1895, con đường sắt Lạng-Sơn - Hà-Nội đã hoàn tất. Công việc di chuyển và tiếp tế lương thực cho các đồn ở miền thượng-du rất thuận tiện cho quân-đội Pháp. Galliéni lại đích thân đi thanh tra các vùng từ Lạng-Sơn đến Cao-Bằng, rồi qua Bắc-Cạn, xuống Chợ-Chu, Thái-Nguyên dụng ý là quan sát tình hình khu Yên-Thế và tìm hiểu tại chỗ sự hành động của Đề-Thám.
Nhận thấy đồn lũy đóng lẻ tẻ và làm toàn bằng vật liệu nhẹ, đại-tá cấp tốc cho triệt hạ và xây cất cất lại kiên cố hơn, cùng cho lập thêm nhiều đồn, trạm mới khắp miền biên giới Việt-Hoa để ngăn chặn những bọn thổ phỉ và buôn lậu thường qua lại mua bán đổi chác vũ-khí với nghĩa quân. Sau đây Galliéni lại dùng chánh trị; đổi các viên chức người Việt ở miền thượng-du về đồng bằng, thay thế họ bằng những người địa phương như Thái, Nùng, Mán để họ tự cai trị lấy; cất nhắc những người tù trưởng lên làm quan và cấp súng cho họ. Galliéni muốn dùng họ để chống lại Đề-Thám còn quân đội Pháp chỉ đứng ngoài bảo vệ, khi nào cần mới đích thân ứng-chiến. Kế hoạch nầy làm cho vùng Yên-Thế lọt vào vòng kiểm soát của quân-đội Pháp một cách chặt chẽ. Đề-Thám hiểu rõ dụng ý thâm độc của Galliéni, nên cũng trù tính mọi cách đối phó: đột kích các đồn bót quan trọng ở các đô-thị tăng-cường nghĩa quân, mua sắm thêm võ khí tối tân của Đức ở bên Tàu, tích-trữ lương thực và quân nhu để chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài, xây những chiến lũy trong rừng sâu, đào hầm ở dưới đất, cho người len-lỏi tuyên truyền trong dân chúng địa phương và nhất là tổ-chức địch vận ngay trong lòng địch. Một số lính khố đỏ, khố xanh cùng những thành phần bất mãn ở địa phương đã theo về Yên-Thế. Trong công cuộc củng cố Yên-Thế Đề-Thám đã nhờ vào công lao của người vợ thứ ba là Đặng-thị-Nhu rất nhiều. Năm 1895, Đề-Thám cho nghĩa quân tấn-công đồn Phả-Lại, cướp được đồn. Cùng trong năm nầy, Đề-Thám cho quân xâm nhập vào địa-phận tỉnh Bắc-Ninh, ám sát ba viên chức người Pháp. Đề-Thám lại sai Lãnh-Túc kéo quân đến làng Phú-Liêm ở gần Phủ Lạng-Thương, cảnh-cáo dân chúng ở đây, vì họ đã nghe theo lời Pháp không chịu tiếp tế cho nghĩa quân. Uy danh của Đề-Thám mỗi ngày một vang dậy.
Lúc nầy, 1897, Kỳ-Đồng ở Pháp về, xin lập đồn-điền ở Yên-Thế. Kỳ-Đồng mộ được đến 3.000 dân phu lên khai khẩn trên đó, rồi liên lạc với Đề-Thám, ngầm giúp cho Thám nào người, nào của, nào khí giới. Nhưng chẳng bao lâu, việc đến tai toàn quyền Doumer, viên này một đêm cho bắt Kỳ-Đồng, đưa xuống tàu thủy ra Hải-Phòng, đem đi đày Guyane.
Tuy Đề-Thám không nhận các sự việc xảy ra là do mình chủ mưu, nhưng chánh quyền Pháp chắc chắn là những hành động phá rối an-ninh đều tự Đề-Thám mà ra cả. Galliéni tức giận những nhà cầm quyền cao cấp Pháp đã nhân nhượng với Đề-Thám. Đã nhiều lần y đề nghị đặt khu Yên-Thế vào vùng kiểm soát quân sự do chính y chỉ huy, để chặng đứng mọi hành động phá hoại của nghĩa quân, nhưng không được cấp trên chấp thuận. Sau khi nghiên cứu kỹ-lưỡng, Galliéni quyết định tấn công Kẻ-Thượng, một căn cứ nghĩa quân do Ba-Kỳ điều khiển. Muốn chiếm Yên-Thế, tất phải chiếm Thượng-Yên trước, nhưng sự hao-tổn về nhân lực và quân nhu sẽ rất nặng nề. Mặc dù vậy Galliéni cũng thấy không thể nào nhượng bộ Đề-Thám hơn nữa. Thảo xong kế hoạch, Galliéni trình lên cấp trên lần nầy được chấp thuận. Tập trung tất cả lực lượng, Galliéni liền tấn công vào Kẻ-Thượng, và nhờ có kinh nghiệm trong trận Lũng-Lạt trước đây, Galliéni quyết hành quân chớp nhoáng. Điều khó khăn là Kẻ-Thượng ở sát địa phận của Đề-Thám và Lương-Tam-Kỳ; trên pháp lý hai người nầy đã quy-thuận nhà cầm quyền Pháp, nếu vi-phạm để cho Đề-Thám và Lương-Tam-Kỳ có cớ hợp lực mà trợ giúp Kẻ-Thượng thì thật là một mối nguy cho quân-đội Pháp, vì chiến tranh sẽ lan rộng khắp miền thượng-du. Do đó Galliéni quyết đánh thật nhanh và thật mạnh, nhưng chỉ đánh nguyên địa phận Kẻ-Thượng của Ba-Kỳ mà thôi, để tránh sự mất lòng của Lương-Tam-Kỳ và Đề-Thám. Nhưng trong khi nghĩa quân ở Kẻ-Thượng chiến đấu anh dũng, thì ở khắp miền thượng du Bắc-Việt tiếng súng cũng nổ vang rền: Tôn-Thất-Thuyết kéo một nhóm nghĩa-binh Cần-Vương đánh miền Cao-Bằng rất dữ dội. Tại Yên-Thế, Đề-Thám liền cho người liên lạc với Lương-Tam-Kỳ ở Chợ-Chu để hợp lực đánh tan những đạo quân Pháp và chặn đường tiếp tế của họ. Galliéni hoảng sợ vội ra lệnh cho Trung-tá Vallière ở Cao-Bằng chặn đánh các đạo nghĩa quân đến tiếp viện Kẻ-Thượng, để cho quân của hắn tiến đến địa điểm nầy theo chương trình đã vạch trước. Bị Vallière ngăn cản, nghĩa-quân không thể tiếp viện Kẻ-Thượng, đành phải rút lui. Lương-tam-Kỳ thấy tình thế khó khăn, cũng thu quân về bản doanh Chợ-Chu để giữ hòa khí với quân Pháp. Hay tin nầy Đề-Thám tức giận nhưng cũng không làm thế nào hơn là "án binh bất động" để lo những việc cho là quang trọng hơn. Thế là Kẻ-Thượng bị hoàn toàn cô lập và thất bại trước sức tấn công vũ bão của Galliéni. Trong trận Kẻ-Thượng quân Pháp đã giết mất cũa nghĩa-quân một viên tướng có tài là Lãnh-Nguyên ở Hòa-Mục. Nguyên vốn là bộ trưởng đắc lực ở Ba-Kỳ.
Sở dĩ trước kia có việc Pháp hòa-hoãn với Đề-Thám là vì nội-bộ chính-quyền bị lủng-củng, phe hành-chính có những ý kiến bất đồng với phe quân sự của thống-tướng Duchemin và đại tá Galliéni. Nhưng sau hai lần thu được thắng lợi rực rỡ ở Lũng-Lạt và Kẻ-Thượng, Galliéni bắt đầu có uy tín dưới mắt toàn-quyền Rousseau nên quyết định tiêu-diệt Đề-Thám. Y lẳng-lặng chuẩn-bị một cuộc tấn công đại-qui-mô. Vào tháng 9 năm 1895, Galliéni đề-nghị với phủ toàn-quyền, sáp nhập Yên-Thế vào khu quân-sự để dễ dàng kiểm soát hành động của nghĩa-quân, và gửi cho Đề-Thám một bức thư hăm-dọa đại ý cho Thám biết là chính-quyền bảo-hộ đã quyết đem lực lượng chính-quy lên thay thế những đội lính khố xanh hiện đóng ở Nhã-Nam và Bố-Hạ, nhất là nhấn mạnh ở điểm quân-đội Pháp sẽ thẳng tay trừng trị những hành động phá rối cuộc trị an của nhóm nghĩa quân. Nhận được bức giác-thư nầy, Đề-Thám biết không còn né tránh được một phen quyết liệt, nhưng cũng trả lời rằng Yên-Thế từ khi có thư cầu hòa vẫn giữ đúng lập trường của mình, không hề tham gia bất cứ nhóm nghĩa quân nào để hoạt-động chống Pháp. Dù đã có dụng ý kéo dài thời gian để đối phó mọi sự bất ngờ. Thám cho bố-phòng chiến-khu Yên-Thế thêm chặt-chẽ, đắp thêm pháo-lũy, đào thêm đường hầm, lại cho nghĩa quân len-lỏi trong hàng ngũ địch để hoạt-động phá-hoại. Những vụ bắt cóc kiều dân và sĩ-quan Pháp làm con tin vẫn tiếp-tục, vì thuận lợi cho việc điều-đình, lại được Pháp chuộc tiền. Những cuộc tấn-công các chuyến xe lửa, đánh úp đồn trại ở vùng Phủ-Lạng-Thương, Bắc-Ninh, Bắc-Giang diễn ra hằng ngày, làm cho quân Pháp điên đầu. Vì Đề-Thám nghĩ rằng, không sớm thì muộn nghĩa-quân cũng có một trận sống mái với quân Pháp, thì giết chúng trước còn hơn là ngồi chờ chúng đến giết mình. Bấy giờ Galliéni vừa đặt tổng-hành-dinh mới tại Nhã-Nam, liên tiếp được báo-cáo khắp nơi về hoạt động của nghĩa-quân. Anh ta sốt ruột vô cùng, nhưng chưa dám tấn công, vì sợ Đề-Thám ở Yên-Thế liên kết với các nhóm nghĩa-quân và những nhóm Cần-Vương ở miền thượng-du Bắc-Việt rồi cùng một lúc phản-công thì y khó bề trở tay cho kịp: lực lượng quân Pháp chưa đủ để mở rộng chiến trường. Vả lại, Galliéni đang chờ binh tiếp viện, và nhất là một thứ võ khí mới phát minh, đó là loại trái phá có sức tàn phá mãnh liệt. Galliéni cho nhiều người dò la tin-tức quanh chiến khu Yên-Thế để biết rõ cách bố-phòng và tìm hiểu chính xác lực-lượng của nghĩa-quân, nhưng họ hoàn toàn thất bại, vì không đột nhập vào được. Sau khi có quân tiếp viện, Galliéni đem ba đạo quân có trọng pháo yểm-trợ và lần nầy lại gởi thêm cho Đề-Thám một bức thư nữa, cho biết Thám phải giao nạp tất cả võ-khí của nghĩa-quân, triệt hạ ngay các pháo đài, giao quyền kiềm-soát toàn khu Yên-Thế cho quân đội Pháp; riêng Thám sẽ được định cư ở một nơi khác và có thể lập ấp riêng biệt để sinh-sống, hoặc hợp tác với chính quyền; yêu cầu Thám trừng trị Đốc-Thu và Lãnh-Trúc, vì hai người này đã hành-động phá rối an-ninh làm giảm uy tín của Yên-Thế; cho Thám kỳ hạn chót là ngày 22 tháng 11 năm 1895 phải trả lời dứt khoát về những điểm đã nói trên.
Nhưng hạn chót đã trôi qua. Đề-Thám vẫn im lặng, Galliéni gửi thêm bức thư hăm dọa, buộc Thám phải tức tốc trả lời ngay, không thể viện lý do nào để trì hoãn được nữa. Mặt khác, Galliéni hứa để cho Thám được đến làng Bình-Yên, huyện Yên-Dũng, sống với gia đình và khai thác vùng này, sẽ được cấp đủ nông cụ và 40 tên quân, song võ-khí và nghĩa-quân còn lại phải giao cho Pháp. Hạn trong 3 ngày, đến ngày 28 tháng 11 năm 1895 là cùng, nếu không có đáp ứng, chính-phủ sẽ coi Thám như kẻ-thù. Trong ngày 27, tất cả ba đoàn chánh quy của Pháp được lệnh chuẩn bị tấn-công Yên-Thế. Nhưng qua ngày 28, Galliéni nhận được phúc thư của Thám, báo tin sẽ cho một viên lãnh-binh cùng với 30 nghĩa quân đến tận tổng-hành-dinh của y tại Nhã-Nam để thương-thuyết. Đồng thời cho biết ý kiến của mình là xin ở lại Phồn-Xương như từ trước tới nay.
Galliéni biết Thám lại cố ý kéo dài cuộc thương-thuyết để hòng tiếp tục chiến đấu. Y trả lời ngay là không chấp thuận thay đổi bất cứ một điều kiện nào đã ghi trong bức thư ngày 25-11, và bắt buộc Thám phải đích thân đem nạp tất cả võ-khí ngay chiều 28.
Tưởng hăm dọa như vậy Thám sẽ khiếp sợ, nhưng cũng như mấy lần trước...Thám vẫn lặng thinh, Galliéni đâm hoảng, đánh điện về bộ tổng-tư-lệnh xin đừng cho Thám ở lại Phồn-Xương như cũ và bắt buộc phải ra trình-diện ở Nhã-Nam; nếu điều đình không kết quả, trận đánh Yên-Thế sẽ diễn ra ngay vào sáng hôm sau.
Galliéni cũng đánh điện riêng về cho thống-tướng Duchemin biết sẽ xuất quân vào ngày 29-11-1895 và vì sự liên-lạc khó khăn, có thể thay đổi chiến lược trong lúc hành quân. Nhưng toàn-quyền Rousseau và thống-tướng Duchemin thấy tình thế bấy giờ không cho phép chánh-quyền hành động quyết-liệt như vậy: sau cái chết của nhà cách-mạng Phan-Đình-Phùng, tất cả các nhóm nghĩa quân cũng như các bộ-đội Cần-Vương đều hướng về Đề-Thám, nay nếu Thám bị đưa vào ngõ bí, tất nhiên nghĩa-quân ở khắp nơi sẽ kéo về giải vây, làm thế nào điều động được để kịp thời ứng phó? Sau khi thảo luận, Duchemin liền cho người hỏa-tốc mang lệnh ra tại tổng-hành-dinh của Galliéni ở Nhã-Nam, truyền cho đại-tá chỉ nên buộc cho Đề-Thám rút lui khỏi vị trí đóng quân, chứ không nên mở trận đánh tiêu diệt. Galliéni được lệnh vô cùng tức giận, nhưng vì thể diện không thể không ra oai. Sáng hôm sau, khi quân đội Pháp tiến vào Phồn-Xương, Đề-Thám và nghĩa-quân đã rút đi bao giờ rồi. Thế là cũng như mấy lần trước, quân đội Pháp gặp phải sức kháng cự mãnh-liệt của nghĩa-quân, bị tổn thất nặng nề. Tuy chiếm được Yên-Thế, nhưng quả không có gì đáng kể. Bên nghĩa quân, Thông-Luận anh của cô Ba, bị truy kích gắt quá, phải đầu hàng, khiến cho hàng ngũ nghĩa-quân nứt rạn, hơn nữa, việc mất Yên-Thế gây ra mặc cảm thất bại trong lòng quân và cả lòng dân.
Sau đó Galliéni mãn hạn, xin về nước, vì bất mãn với cấp trên.
* *
*
Mặc dầu vậy, Thám cũng thấy rằng không sao chống chọi được với quân Pháp nữa, nên nhờ đại-tá Peroz ở Nhã-Nam xin cho quy chánh.
Toàn-quyền bấy giờ là Paul Doumer, bận nhiều việc khác trong nước, nên bằng lòng cho Thám được cai-trị cả miền Yên-Thế với điều kiện:
Không được mộ người vào Đảng.
Không được đánh phá những làng không thuộc quyền mình ;và những cơ sở đã làm trên đất Phồn-Xương phải để cho viên đại-lý Nhã-Nam kiểm soát.
Thám đóng đồn tại Phồn-Xương, yên trí làm đồn điền, khai-khuẩn lâm sản, trong ba năm trời không chút gì xích mích với chính-quyền.
Đồn-điền Phồn-Xương của Thám, Nam tới Lạng-Giang, Bắc tới Lạng-Sơn, Đông từ sông Sói lật sang, từ Thái-Nguyên Tuyên-Quang trở lại, là một dải rừng xanh núi đỏ, bát-ngát bao-la. Thám một mặt chiêu mộ điền tốt tới để phá núi, vỡ rừng, cày cuốc các thung lũng, một mặt dựng làng lập ấp, xây đắp các căn cứ cho đồ đảng của mình.
Thực ra, tuy Thám đầu thú với chánh-phủ, nhưng vẫn không quên cái chí vẫy vùng trời biển, suốt ngày suốt tháng chỉ lo tính việc khởi binh. Những dân làm ruộng của Thám hầu hết là kẻ có vườn, cày ruộng, cặm-cụi như nông-dân, đến lúc hữu sự, chân tướng mới lộ ra, họ đều có thể vác súng, ra trận, bắn phát nào trúng phát ấy, bởi vì họ phần nhiều là đảng cướp ở Trung-Châu hoặc quân tàn của đảng Văn-Thân ngày trước, bất đắc chí mà trốn lên đấy.
Thám cho chia ngã về các tỉnh Trung-Châu mộ người lên đồn điền, gặp ai họ cũng lân la làm quen rồi tùy cơ khuyên dỗ, trai làm thợ cầy, gái làm thợ cấy, thuyền thợ thì ai theo nghề nấy. Còn những ông cử, ông tú, thầy khóa thầy đồ người nào tư chất chậm chạp thì dùng vào việc trông nom sổ sách, hay là dạy học, người nào thông minh thì làm tham-mưu hoặc cho sang Tàu, Nhật để khảo sát về quân sự.
Nhờ có người đi lại bên Tàu, ảnh hưởng cách-mạng Tàu đã lan đến Thám.Biết rằng muốn làm việc lớn mà cứ dùng thủ-đoạn cá-nhân độc-đoán, bắt người ta phải hy-sinh cho mình, tất nhiên là khó-thành-công, Thám bèn bắt chước phương pháp của bọn cách-mạng Tàu, lập ra một đảng lấy tên là Nghĩa-Hưng.
Năm Đinh-Vị (1907), trong nước đang có phong trào Đông-Du (sang Nhật du học).
Đề-Thám lợi dụng ngay cơ hội đó, nói phao lên rằng: Đảng Nghĩa-Hưng tức là đảng Đông-Du, các người Việt-Nam sang Nhật đều là làm việc cho đảng, đảng cấp lương cho hết thảy. Vì vậy, lại càng đuợc nhiều người tin và tìm đến gia nhập.
Trong số mới nhập đảng có Đội-Nhân, đội pháo-thủ, Đội-Đàm đội khố xanh, Cai-Ngà, Cai-Lê khố đỏ, Hai Hiển và Nho, đầu bếp trong trại lính Tây v.v...
Không bao lâu đảng Nghĩa-Hưng lập chỉ-bộ rải-rác khắp trong tỉnh Thái-Nguyên, Bắc-Giang, Lạng-Sơn, Bắc-Ninh, Hưng-Yên, Hà-Nội. Nhứt là ở Hà-Nội càng đông: ở trại lính, nhà pha Hỏa-Lò, đều có người trong đảng.
Khi thế-lực đảng "Nghĩa-Hưng" đã khá lớn mạnh, Đề-Thám quyết định đánh lấy Hà-Nội.
Theo chương trình dự thảo, thì trong đêm 17-11-1907, đảng-bộ ở Hà-Nội phải chiếm lấy thành phố, sau đánh Bắc-Giang, Bắc-Ninh, Thái-Nguyên, Vĩnh-Yên, rồi sẽ chia ngả kéo xuống miền Đông, miền Nam.
Đứng đầu đảng bộ ở Hà-Nội là Đội-Hổ và Lý-Nho, tổng cơ quan ở phố cửa Nam, nơi chứa những súng đạn các nơi đưa về.
Ngày 16-11-1907, những người lãnh nhiệm vụ đều có mặt tại đây.
Chẳng ngờ chiều hôm đó, có đảng viên nội công, đem hết việc báo cho sở mật thám. Thanh-tra chánh-trị De Miribel một mặt cáo cấp với tướng Piel, một mặt sai người dò thám. Piel lập tức sai lính Tây đi tuần khắp phố; phủ toàn-quyền, dinh thống sứ, kho súng, kho đạn, trại lính v.v... đều dùng lính Tây canh phòng rất nghiêm-nhặt. Lính ta thì bị cấm trại, và lột hết đạn dược, cửa trại khóa lại.
6 giờ chiều ngày 17, Piel đem quân vây phố cửa Nam, xông vào nhà của Đảng, nhưng không thấy một ai, chỉ bắt được nhiều súng đạn. Thì ra từ sáng hôm ấy, Lý-Nho, Đội-Hổ, Lạng-Sửu và các đảng viên biết việc bại lộ, đã trốn đi nơi khác, không kịp đem súng đạn đi.
Việc không thành, Lý-Nho lại định khởi sự vào ngày lính đi tập bắn ở bãi chùa Thông. Cũng lại không thành, vì Piel đã dự phòng bất trắc bằng cách cho lính đi từng tiểu đội lên đến bãi bắn bắn mới phát đạn. Đến 9 giờ tối, lính và cai trong đảng đã tháo hậu súng đại bác, và rút ra ngoài thành về mé đường đi Sơn-Tây, đợi nhập bọn với đảng viên, rồi khởi sự. Nhưng nội-bộ xảy ra lủng củng. Một vài cai đội không dám hưởng-ứng, sợ lính Tây đông, hỏa lực mạnh.
Lý-Nho phiền trách Lang-Sửu đã không thật lòng, Lang-Sửu lại cho rằng Lý-Nho không đủ uy-thế để chỉ-huy. Rút cục, cả bọn lại về không. Lạng-Sửu sợ Lý-Nho về phúc trình với Thám đổ tội cho mình làm hư việc, nên đầu độc cho Lý-Nho chết.
Thám thấy thất bại hai lần, chép miệng phàn nàn mãi, sau cho gọi hết các đảng-viên trọng-yếu ở đồn xuôi lên Phồn-Xương để cùng bàn định việc tiến thoái. Thám cho rèn hai thanh kiếm để giao quyền chỉ huy cho Đồ-Đàm và Đội-Hổ khởi sự một lần nữa ở Hà-Nội.
* *
*
Ngày 26-6-1908, Đồ-Đàm và Đội-Hổ họp đảng viên ở bản doanh nơi một quán ăn phố cửa Nam, gần trại lính, cắt đặt công việc: Lang-Sửu, Hiển, người thầu nước vo gạo trong trại, Cai-Ngà, Cai-Xe, lái gỗ Vinh sẽ đầu độc trại lính Tây bằng cách trộn bột hạt cà độc dược vào thức ăn; Đội-Nhân, Dương Bé, Tư-Bình, trong toán lính thợ đội pháo thủ sẽ sữa soạn lừa ngựa đợi lúc khởi sự thì chở cỗ súng trái phá ra ngoài; 9 giờ chiều 27, Cai-Ngà sẽ bắn 3 phát súng hiệu rồi cùng Hiển, người thầu nước gạo, tiến đánh phía Bắc; phó Khiết dẫn quân ở Sơn-Tây xuống Ô Cầu-Giấy, đánh dinh trại, cướp súng đạn, rồi nhập bọn với quân Đồ-Đàm, Đội-Hổ, giết lính Tây, cho lừa ngựa của trại chở đại bác ra cầu sông Cái và Cầu-Giấy để ngăn quân tiếp viện ở Sơn-Tây, Bắc-Ninh và Hải-Phòng có thể tiến tới: chừng 200 quân mai phục ở bãi Phúc-Xá sẽ vào cướp các nhà sĩ-quan Tây ở Đồn-Thủy, còn Cả và Hòa thì cướp Gia-Lâm, phá nhà ga, bóc đường sắt, cắt dây thép; 11 giờ đêm mọi việc phải xong.
Ngày 27 đã tới. Đúng 12 giờ trưa, Hiển người thầu phục nước vo gạo, sai tên bếp Ngọc đến nhà Cai-Ngà lấy những gói bột cà độc dược, chừng 4 giờ chiều thì đưa mỗi hỏa-đầu-quân một ít, 6 giờ: Cai-Ngà đôn-đốc cho ai nấy chuẩn bị theo công tác của mình.
7 giờ chiều, thiếu tá Grimaud được tin 200 lính trong cơ pháo thủ 4 và 9 bị trúng thực. Ba người cai tình-nghi trong cơ lính thợ bị bắt. Từng toán bộ lịnh kéo ra đóng ở nhà máy điện và những nơi trọng yếu. Từng toán lính tuần hành quân qua các phố. Thấy động nghĩa quân biết là có biến. Cai-Ngà cùng bọn hỏa-đầu quân lẩn trốn.
Chính quyền lập hội-đồng để xét xử những phạm nhân. Từ 29-6-1808 đến 27-11-1908, hồ sơ mới kết thúc, vì trước hết phải truy tầm cho được phạm nhân: họ đã trốn đi gần hết. Nhưng ngay từ 8-7-1908, những cai pháo thủ Tư-Bình, Dương-Bé và Nhân đã bị hành quyết: ngày 3 tháng 8 đến lượt Hiển, người thầu nước vo gạo, Cai-Ngà và Xuân. Ngày 29 thang11-1908, Đồ-Đàm, lái gỗ Vinh, Đội-Hổ, và Đồ-Chánh. Tất cả 13 người, trong số này 7 người là đồ đảng Đề-Thám. Ngoài 13 người này ra, có 4 bị đày chung thân, 26 bị đày từ 5 đến 20 năm, 10 bị tù từ 1 đến 5 năm, 8 được tha bổng. Thế là chi-bộ Nghĩa-Hưng ở Hà-Nội tan rã.
* *
*
Việc Hà-Nội thất bại làm cho tướng tá của Đề-Thám đâm rụt rè. Chính Thám cũng lo sợ, không dám trú đâu liền hai đêm. Cô Ba và Cả-Trọng thay phiên nhau canh chừng giấc ngủ của Thám, cắt quân coi giữ suốt ngày đêm ngoài cửa phòng.
Thám truyền cho các tướng ở Bắc-Ninh và Phúc-Yên, Phả-Lại rút cả về Yên-Thế, đồn chính đặt ở làng Chợ-Gò, chung quanh có hào lũy. Lại cấp tốc tổ chức Yên-Thế thành chiến khu, mỗi lối đi vào đều có điếm canh. Khi viên đại-lý Nhã-Nam đến hỏi xây lũy để làm gì. Thám trả lời: "Cho nó đẹp!" Mỗi làng trong chiến khu, có cắt quân canh chừng hành động của lính khố xanh, khố đỏ, trong khi đoàn nghĩa quân đi dọ-thám có khi suốt đến tận sát Nhã-Nam.
Thấy tình thế đã tạm vững, Thám lại cho Ca đem quân đánh Vĩnh-yên. Ca bị tử thương trong trận đánh với Lagarde đồn khố xanh. Quận Mỹ cũng bị tử trận khi đánh với đồn khố xanh Lafferrière ở chùa Liễu-Đề, Bắc-Giang.
Sang đầu năm Kỷ-Dậu (1909), toàn quyền Klobukowski thay toàn quyền Beau là người kế nhiệm của Doumer, thấy quanh vùng Yên-Thế mãi không yên, bèn quyết định dứt khoát một phen với Đề-Thám: cử đại-tá Bataille bao vây Phồn-Xương và tiễu trừ những ổ nghĩa quân; ngày 28-1-1909, gửi một tối-hậu-thư buộc Đề-Thám phải giao lại tất cả võ-khí và đạn dược, cùng những lính đào ngũ, những kẻ cướp, những tội phạm đã bị xử khiếm diện hiện ẩn náu ở Yên-Thế; và chính Đề-Thám phải đích thân tới Hà-Nội trình diện cùng cam kết trở lại cuộc sống lương thiện.
Thám không trả lời.
Sáng 29-1-1909, một cáo thị của thống sứ dán khắp trên tường các đình làng thuộc tỉnh Bắc-Giang, kêu gọi dân chúng hợp tác để diệt trừ Hoàng-Hoa-Thám. Sau đó lính khố xanh tiến đánh Chợ-Gò để cố diệt Cô-Ba, vì cô là người thân yếu nhất của Thám, và cũng là một kiện tướng bắn súng không bao giờ phí đạn. Nhưng vào đến trong làng thì không gặp sức kháng cự nào, tưởng mọi người đã trốn hết. Có ngờ đâu, Cô Ba đã cho mai phục, để lại trại không. Lính vừa muốn rút ra thì bốn phía súng nổ, trong tiếng súng nổ có tiếng hô quân của Cô Ba, thét lên như hổ gầm. Kết quả, thiếu-úy Courteix và chuẩn-úy Cololna tử trận, tàn quân chạy tứ tán.
Tuy vậy, ngày 30-1-1909, quân Pháp cũng chiếm được Chợ-Gò và Ấm-Đông, vì Đề-Thám và nghĩa-quân đã từ chiều hôm trước chạy về Rừng-Tre. Ngày 1-2-1909, nghĩa quân giết được một ít quân Pháp rồi lại biến. Ngày 11, ở Đồng-Dung, Cả-Dinh, Cả-Huỳnh, Lý-Thu, trong 6 giờ chiến đấu, giết được 6 quân Pháp, 16 bị thương. Trở về Đồng-Đền, lại giết thêm 5, gây thương tích cho 2 sĩ quan Pháp. Mỗi lần Pháp kiếm nghĩa quân là một lần thất vọng; rõ-ràng đã vây kín, mà khi đánh vào vẫn không bắt được gì: họ lẫn vào rừng sâu mất hút. Nhưng họ cũng bị tán mỏng: Cả-Dinh chạy lên Mon-Lương, Đề-Thám và Cả-Trọng về Rừng-Phé, Cả-Huỳnh sang Phúc-Yên.
Thống sứ treo giả 2.000đ và một phẩm hàm cho kẻ nào lấy được xác Đề-Thám. Hành động này có hiệu lực làm cho Đề-Thám phải giữ mình với chính đồ đảng của mình, và không dám mộ thêm đồ đảng mới. Đến tháng 4, quân bản bộ của Cả Huỳnh tổn thất đến 3 phần 4. Cả Trọng chết, dư đảng phân tán chạy sang Vĩnh-Yên. Phúc-Yên, Bắc-Ninh. Cuộc truy kích vẫn không ngừng. Cuối tháng 4, quân Pháp chết 29, bị thương 79. Sau đó, Đề-Thám gửi thư tỏ lòng trung thành với Pháp.
* *
*
Đầu tháng 5, Đề-Thám lần quất ở Phúc-Yên. Chạy trốn mãi kiệt lực, Lý-Thu và Can, em rễ Đề-Thám, ra hàng. Các báo Tây mỗi ngày đăng tin Đề-Thám sắp sửa hàng. Thực ra, Thám cùng Cả Dinh, Ba Biểu, Cai Sơn, Hải-Nam, ngày 24-6 ở cách Hà-Nội chỉ 15 cây số, và ngày 5-7, lại bắt cóc Voisin, một viên giám thị hãng thầu Leroy, khi anh này đi xe tay đi qua làng Phù-Lỗ.
Đề-Thám buộc Voisin viết cho viên đồn khố xanh bảo đừng hành động gì. Đêm ấy, Đề-Thám cùng nghĩa quân đem Voisin lên Thái-Nguyên; qua ngày 8-7, đến Lang-Lai, vào ngụ trong chùa, cho liên lạc với giám mục Velasco để nhờ điều đình với Pháp. Thống tướng Geil cử thiếu tá Chofflet đi cứu Voisin. Chofflet là người cứng rắn tàn bạo. Trong khi Velasco thương thuyết với Pháp, Chofflet tiếp viện cho đoàn lính khố xanh đương vây Lương-Lai. Ngày 12-7, chính phủ Pháp trả lời: Thả Voisin ra thì sẽ được sống, và được cấp dưỡng; gia đình Thám ở Yên-Thế đã bị bắt, và sẽ bị đày, nếu Voisin bị hại. Thám nổi trận lôi đình, cho trói Voisin chặt thêm. Cô Ba đưa khẩu súng Mauser cho Thám bắn. Thám gạt đi, và đẩy kịp khẩu súng của Đội Huân, vì Đội Huân muốn hạ sát Voisin.
Ngày 13, chính quyền hối Thám trả lời. Đêm hôm ấy, một trận bão lớn nổi lên, mưa như trút, sấm sét đùng đùng, loang loáng. Ngày 14, quân của Chofflet vào chùa không còn ai trong đó.
Mấy ngày liền, nghĩa quân lánh từ làng nầy sang làng khác, đến ngày 21, mới dừng ở Xuân-Lai; ở đây tuy được yên ổn, nhưng cũng phải canh chừng, vì Hai Nôm, tì tướng ở Phúc-Yên, mới bị trung-úy Lê-dương Bouffé bắn chết.
Chofflet hành quân ngày càng tàn bạo; đập phá các đền thờ, hơi nghi ai là bắn liền. Từ sáng đến trưa, quân Pháp đã vây kín làng Xuân-Lai. Đề-Thám đứng trong một đường hầm sau nhà thờ, Voisin bị trói một bên, có hai người giữ. Quân Pháp khai hỏa, Đề-Thám cùng nghĩa quân rút về phía Đông-Nam, nằm trong một hố sâu. Súng bắn ầm ầm, mà không trúng ai cả.
Giữa khoảng hai phát đại bác nổ, bỗng nghe tiếng Voisin kêu thất thanh: "Đừng bắn nữa, Đề-Thám sẽ ra hàng". Quân Pháp ngừng bắn. Ba lần như thế, vẫn chẳng thấy Thám ra, Chofflet gọi thêm quân từ Đa-Phúc về bao vây, khai hỏa mạnh hơn, chú trọng vào hàng tre phía nam là chỗ cổng làng. Cách đó 600 thước, hàng tre phía bắc có lính canh và ánh lửa sáng do thủy quân Pháp đốt nhà dân, chắc nghĩa quân có chạy ra lối ấy cũng không sao thoát được.
Vậy mà Đề-Thám chọn chính lối ấy để trổ ra.
Gặp lính canh, Ba Biểu kêu gọi tình đồng bào, lính canh không bắn, cả bọn kéo lên đê, và bắn trở vào Xuân-Lai, giả như mình là lính khố xanh vậy. Bên đê có một cái ao rộng và sâu, nghĩa quân nhảy xuống bơi qua mà không ai biết. Hai người giữ Voisin vẫn kèm y đi và y vẫn bị trói. Rồi một mưa bão lại dội đến nữa. Đề-Thám và nghĩa quân thoát hiểm.
Voisin mệt lả, lại lên cơn nóng lạnh. Ngày 24-7 khi lên đường y nói với Thám.
-Ông giết tôi đi, tôi kiệt sức rồi không theo được nữa.
Cô Ba đưa súng cho Thám:
-Ông bắn nó đi cho rồi.
Thám gạt đi, bảo Voisin:
-Nếu tao thả mày, mày có đi được không?
-Nếu thả tôi sẽ nằm đây đợi cứu hay đành chờ chết vậy.
Cả dinh quát:
-Mày cũng cứ phải treo, tao sẽ có cách cho mày khỏi mệt.
Cả Dinh cho đẵn tre làm một cái cáng, hai người khiêng Voisin đi.
Thám đã suy nghĩ nhiều. Cứ trốn mãi mà lúc nào Pháp cũng bám riết theo sau. Mình không nhượng bộ đã đành, nhưng Voisin có thể chết vì mệt và vì bệnh. Nó chết thì gia đình ở Yên-Thế sẽ nguy mất. Trước khi lên đường, Thám đến gần Voisin dúi vào túi y một lá thư:
Đêm nay tao sẽ thả mày, mày phải đưa thư này cho viên đại-lý, và nói rằng vẫn được tao đối xử tử tế.
Thế là nghĩa quân ra đi. Voisin nằm dài trên cảng như chết, đến 1 giờ sáng, sực tỉnh dậy, thấy mình ở trong một căn nhà lá. Thì ra hai người nghĩa quân đã khiêng y đến đây rồi bỏ đi. Nghe tiếng cầm canh xa xa, Voisin gắng gượng lết ra, hướng theo âm vang, 3 giờ rưỡi, y tới cỗ canh là đồn Kim Anh.
Ngày 25-7, Chofflet đánh Hiền-Lương: 13 quân Pháp chết, 20 bị thương. Nghĩa quân lại mất dạng như mọi lần Quân Pháp theo đến Bắc-Ninh, ngày 26 quân Pháp lại tổn mất 5 người.
Ngày 13-6, giáp chiến ở Bạch Đa, Chofflet lại mất 1 tử thương và 3 bị thương. Ngày 16, tại Thượng Yên, đánh từ sớm đến trưa với lính khố xanh, khố vàng, Bà-Biểu phải rời bỏ tiền tuyền, rồi Chofflet đến tiếp viện đánh tối mịt, Ba-Biểu tử trận.
Toàn-quyền thấy đánh mãi không được bèn cử một khâm sai. Đó là Lê-Hoan, bấy giờ đang làm Tổng-Đốc Hưng-Yên.
* *
*
Ngày 30-7 Lê-Hoan nhận chức, xin cho Đỗ-Đình-Thuật đứng ra chỉ huy một đạo quân "khố vàng". Khâm sai là người của Vua sai ra, vậy từ nay Đề-Thám không là kẻ thù của Pháp nữa mà là của Hoàng-đế: thần dân phải ra sức đánh đuổi kẻ thù của nhà vua.
Khâm sai Lê-Hoan rất độc ác, các làng trong tỉnh Phúc-Yên thảy đều run sợ, vì làng nào hễ bị tình nghi là bị phạt nặng, chức dịch bị thu gia sản. Lê-Hoan tìm cách ly gián những bộ tướng của nghĩa quân, liên lạc với họ cốt để cho chủ tướng sinh nghi, gây một sự nứt rạn trong hàng ngũ. Một người trong họ Thám ra hàng, được Lê-Hoan cho làm lính lệ, sau vì mật báo nhiều điều quan trọng, được bổ tri-huyện, và sau này leo dần lên hàng tuần phủ: ấy là Hoàng-Tường.
Chofflet muốn đánh mau đánh mạnh không đồng ý với chánh sách mềm dẽo của Lê-Hoan, nên ngày 30-8, bị gọi về, Bonifacy lên thay.
Lê-Hoan do thám và bao vây. Bonifacy tấn công. Ngày 6-9 đánh làng Yên-Lô, ở ranh giới Vĩnh-Phúc-yên, phòng tuyến của nghĩa quân rất nghiêm mật, Pháp bị 4 chết, 6 trọng thương. Đề-Thám cùng với Cả Dinh, Cai Sơn và Cô Ba và chừng 40 người có súng ống, thoát về miền núi Lạng, ở tả ngạn sông Lô, là nơi có sẵn pháo đài kiên cố.
Bonifacy tiến đánh phía Bắc dãy núi. Lê-Hoan giữ mặt Nam. Ngày 5-10, chiến đấu từ 2 giờ chiều tới 7 giờ tối, Pháp chiếm đựơc pháo đài núi Lạng với giá đắt: 17 quan quân chết, 36 bị thương. Đề-Thám lại thoát. Thoát, nhưng nản lòng, vì đồn núi Lạng là kiên cố nhất mà nay bị mất. Cả Dinh bị thương, ra đầu thú ngày 24-10. Đề-Thám chạy lên Thái-Nguyên, sau lại trở về Yên-Thế. Ngày 20-11 Cai-Sơn bỏ ra hàng.
Đề-Thám cùng Cô Ba lẩn trong tam giác Mỏ-Trang, Chợ-Gò, Đình-Lập. Quân Pháp lục soát từng bụi cây một, một hôm bắt được Cô Ba trong rừng rậm, tính dùng Cô Ba làm mồi nhử Đề-Thám. Quả nhiên, Đề-Thám, đêm 1-12, đem quân đi tìm bị phục kích, nhưng cũng lại thoát.
Cùng bị bắt với Cô Ba, có con gái cô là Hoàng-thị-Thế. Tất cả nghĩa-quân bị bắt hay ra đầu hàng là 78 người. Họ bị xích tay giải về Hà-Nội, rồi cho xuống tàu biển đưa sang đài ở đảo Guyane, ở Đại-tây-Dương, gần bờ Nam-Mỹ. Xuống đến tàu Cô Ba cắn lưỡi chết. Pháp đem Hoàng-thị-Thế về Pháp cấp dưỡng, sau cô này làm tài tử xi-nê một dạo, không thành công, kết cục lấy chồng người Pháp ở luôn bên đó. Còn các bạn tù đày lần lượt vùi xương nơi góc biển chân trời.
Tuy chưa bắt được Thám, nhưng đồ đảng của Thám vừa chết trận, vừa ra thú, tính ra đã gần hết. Liệu chừng Thám còn một mình cũng không làm gì nổi nữa, ngày 9-12 năm 1909, Bonifacy chấm dứt mọi cuộc hành quân, chỉ để lại ít sĩ-quan giúp viên đại-lý Nhã-Nam dò la tung-tích của Thám.
Dân chúng đồn rằng Đề-Thám đã chết vì kiệt sức. Đề-Thám thực ra vẫn lẩn lút trong rừng Yên-Thế. Ngày 11-7-1911, lại có người phao lên đã trông thấy Đề-Thám ở Yên-Lệ. Lính khố xanh, khố vàng tới bao vây, 5 tên chết, 7 tên bị thương. Đề-Thám vẫn thoát.
Chuyến này yên được khá lâu. Cuối tháng 6-1912, Đề-Thám gửi thư xin hàng, tùy chính quyền cho ở đâu cũng được.
Sarraut, lĩnh chức toàn-quyền từ 15-7-1911, nhất quyết cự tuyệt. Y nghĩ rằng bấy lâu bắt mãi Thám không được. Thám đã hầu như một nhân vật thần thoại trong đầu óc dân chúng Việt-Nam, thì nhượng bộ nữa, tức làm cho thần thoại thành sự thực, và y sẽ mất thể diện, vã chăng cho hàng rồi biết đâu Thám chẳng liên kết với những kẻ thù của chính phủ, mà gây nhiều hậu họa. Bouchet hỏi có nên truy tầm không ? Sarraut nói : không, chỉ canh chừng là đủ. Sự canh chừng cho Thám thường liên-lạc với bọn lục-lâm ở Quãng-Tây, bọn này dung nạp những đồ đảng cũ của Lương-Tam-Kỳ.
Lương-Tam-Kỳ vốn là đảng viên Thái-Bình thiên quốc bấy nay vẫn yên ngụ ở Linh-Đàm gần Chợ-Chu. Lão đầu hàng từ năm 1890. Năm 1912, lão 72 tuổi, chỉ cầu sống an nhàn. Sarraut chỉ thị cho giám đốc chính trị Bosc giao thiệp với Lương-Tam-Kỳ để trừ Thám.
Bosc đến thăm Lương, hứa thưởng 25.000 đồng cho ai bắt được Thám. Lương từ chối:
-Việc ấy khó lắm. Bao nhiêu người đã uổng mạng rồi mà có bắt được đâu...
Trầm ngâm ít lâu, Lương tỏ ra mệt mỏi nói:
-Mấy ngày nữa con tôi, Lương-văn-Phúc, đi Hà-Nội sẽ có dịp lên chào quan lớn.
Lương-văn-Phúc bấy giờ giữ chức tri huyện ở một huyện trong địa hạt của cha. Mấy ngày sau Phúc tới thăm Bosc, Bosc nói:
-Quan Sarraut không muốn giết Đề-Thám, chỉ cần bắt hắn thôi...
* *
*
Ba lái buôn Tàu, ngày 10-1-1913, đi lang-thang trong vùng Yên-Thế. Bỗng có tiếng gọi:
-Đi đâu thế kia?
-Chúng tôi đi tìm cụ Đề, may lại gặp ngay cụ, vì tôi đã nhận ra tiếng của cụ rồi. Tôi đã yết kiến cụ ở Phồn-Xương bốn năm trước đây. Chúng tôi vừa ở Quảng-Tây sang, có thư của tướng Liên gửi cho cụ đây.
Một phút yên lặng. Bỗng Đề-Thám cùng hai tùy tướng nhảy ở trong bụi cây ra, không một tiếng động. Thám nhìn khách rồi nói:
-Tôi biết chú. Tướng Liên gửi chú sang đây có mục đích gì?
- Tướng Liên nói ba chúng tôi có thể giúp ích cho cụ. Ở Quảng-Tây, chúng tôi đã học cách chế bom dễ chuyên chở và lúc nào ném mới phải châm ngòi. Vả lại có thư của tướng Liên đây.
Thám nhận ra dấu son của tướng Liên, nói:
-Để ta cho thầy đồ đọc thư, còn bạn của chú đâu?
-Chúng tôi ba người, mỗi người có một khẩu Lebel, tôi lại có thêm một súng lục.
- Phải bỏ súng lại rồi theo ta vào đây. Ta sẽ cho người ra lấy súng cho.
Ngày lại ngày, Thám thay đổi chỗ ở luôn. Lúc ở động có cửa sau, lúc ở hang ngáng gỗ lên trên làm mái, có khi ở trong một ngôi chùa hoang tàn. Hai tùy tùng canh chừng suốt ngày đêm. Một hôm, Thám đột nhiên hỏi người Tàu:
-Ba tháng trước ở chỗ này, một tên phó đội lệ muốn rử ta vào bẫy. Ta đã cho hắn một viên đạn vào bụng; 40 ngày sau, tại Lục-Giới gần đây, ta đã kết đời một tên chức dịch. Đứa nào muốn hại ta, sẽ không sống mà ra ngoài rừng!
Bọn Tàu hoảng hồn. Họ ngủ trong một lều, nhưng không dám ngủ cùng một lúc. Thám cũng ở một lều tương tự, ba khẩu súng và hai cái cuốc kề bên tay (cuốc thường dùng để đào hố đứng bắn) hai tùy tùng canh cửa lều, súng nạp đạn sẵn.
Hôm 9-2-1913, Thám bảo hai người nầy:
-Chỗ kia có ba gốc cây vướng mắt. Bay hãy chuẩn bị đẵn đi, đẵn cây lớn trước.
Ba gốc cây, ba người Tàu...
Đêm xuống dần. Hai tùy tùng ngồi cửa lều, bọn Tàu nằm thin thít trong lều bên.
5 giờ sáng, hai tùy tùng thiu thiu ngủ. Bọn Tàu lặng lẽ bước ra, bò vào lều Thám, không một tiếng động.
Đêm rồi, Thám hút thuốc phiện đến gần khuya, bấy giờ đang lơ mơ ngủ gà. Khi tên Tàu đầu đảng tiến đến gần giường, Thám mở choàng mắt, giơ tay giáng cho y một quả đấm thôi sơn, rồi vớ ngay lấy súng. Nhưng tên Tàu cũng hết sức đấm lại, vào hai cạnh sườn Thám. Ông lảo đảo chưa đứng dậy kịp, thì tên Tàu đã vớ được cái cuốc. Một nhát bổ vào ngực Thám, một nhát bổ vào mặt, dưới mắt trái. Thám tắt hơi ngay. Hai tùy tùng cũng chết luôn, vì khi chạy vào cứu chủ, họ bị bọn Tàu dùng súng của Thám mà bắn trúng chỗ hiểm.
Ngày 10-2-1913, tức 5 tháng giêng năm Quý-Sửu, ba tên Tàu tìm đến Bouchet, đại lý Nhã-Nam, trình một bọc và nói:
-Bẩm quan lớn, đây là thủ cấp Đề-Thám.
Bouchet đứng dậy, loạng choạng như trong cơn mê sảng:
-Thế còn hai người nữa đâu?
-Hãy còn để tại chỗ.
-Được rồi. Các anh ở yên đây, trưa nay đưa tôi đi coi.
Giây thép đánh ngay cho công sứ Bắc-Giang và thông sứ. Bouchet giao thủ cấp hai người tùy tùng đem về bêu ba ngay ở Nhã-Nam, xong đó cho hỏa thiêu ba cái xác.
* *
*
Sau khi Đề-Thám qui thần, linh hồn còn hiện nhiều lần đòi lại đôi gươm đã dùng chiến đấu, mà đại tá Chofflet đã lấy treo chơi trong nhà, khi Thám chết. Việc đòi gươm nầy có thuật trong quyển "Tiểu truyện danh nhân" kể trên.
Thanh Tòng 1970