Welcome Guest

dong's story space

   

GIỚI THIỆU VỀ KÊNH ĐÀO PANAMA

Author dong
Post at: Monday, July 21, 2008 - 9:17 AM
Image of current story

 

 

 

 

 

GIỚI THIỆU VỀ KÊNH ĐÀO PANAMA


Lịch sử kênh đào:

Năm 1502 Cristobal Colon đến Panama. Tám năm sau, vào năm 1510, thực dân Tây Ban Nha bắt đầu đô hộ Panama. Vào lúc đó, việc làm một con đường qua Panama là rất có lợi cho việc vận chuyển hàng hoá từ các thuộc địa Nam Mỹ về mẫu quốc. Chính vì vậy, vào năm 1534 Vua Carlos V đã ra lệnh thực hiện những nghiên cứu đầu tiên về địa hình để xây dựng một kênh đào dài 80 km tại Panama. Tuy nhiên, việc xây dựng công trình này đã vượt quá khả năng của thời kỳ đó.

Hơn 3 thế kỷ sau, bá tước người Pháp Ferdinand de Lesseps, người xây kênh đào Suez từ năm 1859 đến 1869, đã lập Công ty Quốc tế Kênh đào liên đại dương Panama với mục tiêu xây dựng kênh đào tại Panama. Năm 1880, bá tước Lesseps khởi công công trình, bán ngân phiếu và cổ phần để huy động vốn. Tuy nhiên, việc xây dựng kênh đào gặp nhiều trở ngại về địa hình, khí hậu cũng như những thiếu sót trong quản lý dẫn đến phá sản về tài chính vào năm 1889.

Năm 1894, Tân Công ty Kênh đào Panama của Pháp được thành lập để tiếp tục các nỗ lực của Lesseps. Một ủy ban kỹ thuật đã nghiên cứu các đặc điểm địa hình, địa chất, thuỷ văn của Panama và đề xuất xây dựng kênh đào theo các cửa để có thể kiểm soát được mực nước dâng của hồ Chagres và giảm số lượng các hố đào trong công đoạn xây dựng. Lần cố gắng thứ hai này cũng không thành công. Thiếu sự giúp đỡ về tài chính của chính phủ và tư nhân, hết vốn, các đại diện của Tân Công ty của kênh đào Panama buộc phải bán lại cho chính phủ Mỹ quyền sở hữu và xây dựng kênh đào vào năm 1904 với giá 40 triệu đô la.

Năm 1903, Panama sau khi giành độc lập khỏi Colombia đã ký hiệp định Hay-Bunau Varilla, qua đó Panama đồng ý để cho Mỹ thực hiện việc xây dựng một kênh đào liên đại dương đi qua Panama. Người Mỹ tiếp tục công trình vào năm 1904 với lực lượng lao động hơn 75 nghìn người và đầu tư tài chính 400 triệu đô la. Cũng như với người Pháp, công trình tiếp tục gặp phải nhiều khó khăn: công nhân mắc bệnh nhiệt đới, công trình bị sụt lở liên tục, nhiều hố đào phức tạp, các cửa kênh đào kích cỡ lớn, nhập nguyên liệu, tổ chức và đào tạo nhân công khó khăn... Tuy nhiên, các trở ngại dần được tháo gỡ. Thượng tá William Crawford Gorgas và nhóm bác sĩ của ông đã triệt tận gốc bệnh sốt vàng da và khống chế được bệnh sốt rét. Kỹ sư trưởng John F. Stevens và cộng sự đã thành lập được hệ thống cung ứng và tổ chức được một hệ thống đường sắt để vận chuyển nguyên liệu đá được đào lên từ các hố đào. Thượng tá George Washington Goethals chỉ huy đào đoạn cắt Culebra, thiết kế những bản vẽ cuối cùng và xây dựng các cửa kênh của đập nước Gatun hiện nay.

Kênh đào Panama khánh thành ngày 15 tháng 8 năm 1914, nằm dưới sự quản lý và vận hành của chính phủ Mỹ. Một chương trình bảo dưỡng nâng cấp cơ sở hạ tầng nghiêm ngặt được lập ra để giữ cho kênh đào trong điều kiện hoạt động tốt nhất.

Năm 1977 Panama và Mỹ ký hiệp định Torrijos-Carter, quy định lộ trình huỷ bỏ Khu vực kênh đào đặc quyền của Mỹ, tăng nhân lực Panama vào việc quản lý kênh đào và chuyển nhượng dần kênh đào cho Panama. Thực hiện hiệp định Torrijos-Carter, Panama đã tiếp quản hoàn toàn kênh đào vào 12 giờ trưa ngày 31 tháng 12 năm 1999.

Theo Điều luật 19 ngày 11 tháng 7 năm 1997, Ban quản lý Kênh đào Panama (ACP) là cơ quan trực thuộc chính phủ Panama, chỉ đạo bởi một Giám đốc và một Phó Giám đốc dưới sự kiểm soát của Hội đồng quản trị gồm 11 người. ACP chịu trách nhiệm quản lý, vận hành, bảo dưỡng, nâng cấp và hiện đại hoá kênh đào, cũng như các hoạt động và dịch vụ kết nối với mục đích bảo đảm hoạt động an toàn, liên tục, có hiệu quả và đem lại lãi suất.

Cấu trúc của Kênh đào

Kênh đào Panama dài 80km nối liền Đại tây dương và Thái bình dương, đi xuyên qua một trong những địa điểm hẹp nhất của dải đất Trung Mỹ, nơi thấp nhất của dãy núi chính nối liền Bắc và Nam Mỹ. Một con tàu trung bình sẽ mất khoảng 8 đến 10 giờ để đi qua kênh. Trong thời gian đó, hành khách có cơ hội để quan sát quy trình hoạt động của một trong những kỳ quan của kiến trúc hiện đại.

Kênh đào được cấu thành bởi các bộ phận chính: Hồ Gatun, đoạn cắt Culebra và ba bộ âu tàu: Miraflores và Pedro Miguel ở phía Thái Bình dương, Gatun ở phía Đại Tây dương.

Hồ Gatun là hồ nhân tạo trải rộng 423km vuông, là nơi tàu thuyền đi qua 37.8km từ cửa kênh Gatun đến mỏm phía Bắc của đoạn cắt Culebra.  Hồ được tạo ra bằng việc xây dựng âu tàu Gatun trên dòng chảy của sông Chagres. Để tăng khả năng tích trữ của hồ Gatun và khả năng hoạt động của kênh đào, tháng 3 năm 2002, Ban quản lý kênh đào Panama bắt đầu tiến hành đào sâu thêm đường đi của tàu thuyền và nâng khả năng cung cấp nước của kênh đến hơn 300 triệu galông mỗi ngày.

Đoạn cắt Culebra dài 13.7km, là một công trình được đào phần lớn trên nền đá rắn và chất liệu cứng. Ban đầu, nhánh sông được đào với 92m chiều rộng, đến tháng 11 năm 2001 được mở rộng ra 192m ở đoạn thẳng và 222m ở đoạn cong, đủ để lưu thông 2 tàu cỡ rộng, loại Panamax.

Kênh đào sử dụng một hệ thống âu tàu và cửa nước, phân chia theo đường vào và đường ra. Các âu tàu và cửa nước hoạt động như những thang máy: tàu thuyền được nâng lên từ mực nước biển (phía Thái Bình dương hoặc Đại Tây dương) cho đến khi bằng mực nước hồ Gatun (cao 26m so với mực nước biển). Bằng cách này tàu có thể tiếp tục đi qua hồ Gatun và được hạ xuống tới mực nước biển ở hệ thống âu tàu phía đầu bên kia của kênh đào và đi ra biển. Các ngăn âu tàu rộng 33.53m và dài 304.8m. Hiện nay, kích thước lớn nhất của các tàu có thể qua kênh đào là: chiều rộng 32.3m, mớn nước 12m nước ngọt, chiều dài 294.1m.

Vai trò của Kênh đào

Kể từ khi đưa vào hoạt động ngày 14/8/1914, Kênh đào Panama đã đóng vai trò quan trọng trong hàng hải quốc tế. Việc sử dụng tuyến đường biển đi qua Kênh đào đã tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển hàng hoá từ Châu Âu tới các bang miền Tây nước Mỹ và từ Đông Á tới các bang miền Đông nước Mỹ, do tránh được việc phải đi vòng qua đi cực nam Châu Mỹ. Kênh đào Panama còn được nhiều nước trong khu vực sử dụng để kết nối chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu với các thị trường Mỹ, Châu Âu và Châu Á.

Ngày nay, hàng năm có trên 14.000 tàu thuyền của 84 nước đi qua Kênh đào, với khối lượng hàng hoá đi qua chiếm 5% trao đổi thương mại của thế giới. Các nước sử dụng Kênh đào nhiều nhất là: Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Chile, Hàn quốc, Peru, Canada, Ecuador, Colombia và Mexico.

Kênh đào là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thiên về dịch vụ của Panama. Các dịch vụ của Kênh đào tạo việc làm cho 9.000 lao động, trong năm tài chính 2006 (từ 10/2005-9/2006) đạt doanh thu gần 1,5 tỷ USD, sau khi trừ chi phí và các khoản đầu tư khác nộp 570 triệu USD vào ngân sách quốc gia của Panama.

Dự án mở rộng kênh đào

Ngày 22/10/2006, Chính phủ Panama đã đưa Dự án mở rộng và hiện đại hoá Kênh đào Panama ra trưng cầu dân ý và dành được tỷ lệ ủng hộ 76,83%. Dự án này có số vốn đầu tư 5,25  tỷ đôla, thực hiện từ năm 2007 đến cuối năm 2014 hoặc 2015, khi hoàn thành sẽ cho phép tàu có kích thước rộng 49m, mớn nước 15m nước ngọt, chiều dài 366m đi qua, dự kiến tăng gấp đôi năng lực vận chuyển của kênh đào.

Cập nhật ngày 28/06/2007

 

 

Kênh đào Panama và một thế kỷ biến động

Thứ tư, 10 Tháng tư 2002, 11:45 GMT+7 showarticletop("http://vietbao.vn","10765800")
   


Vị trí kênh đào Panama.
Vị trí kênh đào Panama.

Kênh đào Panama là con đường huyết mạch nối giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Chính do vị trí chiến lược này mà nó có một lịch sử đầy thăng trầm trong suốt gần 100 năm qua.

Khi nhà thám hiểm Tây Ban Nha, Vasco Nuez de Balboa, đặt chân tới Panama năm 1513, ông chỉ nghĩ đến việc biến vùng đất mới này thành lãnh thổ của nước mình mà không biết rằng nó còn có ý nghĩa lớn hơn nhiều về mặt giao thông. Hai thập niên sau, vào năm 1534, Vua Charles I của Tây Ban Nha, trong một nỗ lực tìm kiếm con đường thông giữa Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, đã ra lệnh cho thống đốc Panama khảo sát đoạn hẹp nhất của eo đất này để xây dựng kênh đào. Nhưng viên thống đốc báo cáo lại rằng ý tưởng này là không thể thực hiện được. Phải hơn 300 năm sau, việc đào một con kênh thông giữa hai biển mới được Pháp và Mỹ khởi động lại.

Thất bại của người Pháp

Hàng ngày có rất nhiều tàu thuyền qua kênh đào Panama.
Hàng ngày có rất nhiều tàu thuyền qua kênh đào Panama.

Pháp là nước tiên phong trong việc khảo sát xây dựng kênh đào Panama. Năm 1878, Hội Địa lý Paris đã ký một hiệp ước với Colombia (khi đó Panama là một tỉnh của Colombia) về việc đào một con kênh từ vịnh Limon bên bờ Đại Tây Dương tới thành phố Panama bên bờ Thái Bình Dương. Nhưng tiến trình xây dựng kênh đào của người Pháp phải đình lại vì không thống nhất được phương án kỹ thuật. Hơn nữa, những người xây dựng không có phương pháp nào để đối phó với nạn sốt rét rừng và bệnh sốt vàng da gây thương vong hành loạt cho công nhân.

Năm 1894, Lucien N.B. Wyse, người từng tham gia khảo sát kênh đào và thương thuyết với Colombia trước đây, lại một lần nữa bắt tay vào việc xây dựng kênh đào Panama. Lần này, công ty của ông thực hiện phương án xây hai hồ nước ở hai đầu kênh và 8 cửa cống kiểu âu thuyền ở giữa. Đây là cách tối ưu mà về sau người Mỹ vẫn sử dụng, nhưng do tình hình tài chính eo hẹp nên cuối cùng công ty Wyse cũng phải bỏ dở công việc.

Mỹ vào cuộc

Kenh dao Panama va mot the ky bien dong
Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt.

Tổng thống Mỹ Ulysses S. Grant quan tâm đến việc đào một con kênh ở Panama từ năm 1852, khi ông qua eo đất này thời còn là một đại úy quân đội Mỹ. Năm 1869, Grant đã cho khảo sát để tìm một khu vực khả thi thực hiện ý định đó. Mặc dù cuộc khảo sát tập trung vào 3 khu vực, trong đó có Panama và Nicaragua, nhưng vẫn không thu thiết kế nào khả quan.

Đến thời tổng thống William Mckinley, ông quyết định tập trung khảo sát xây dựng một con kênh ở Nicaragua. Nhưng vị thổng thống này đã bị ám sát năm 1901 khi mọi việc còn dang dở. Người kế nhiệm ông là Theodore Roosevelt đã quay trở lại eo đất Panama, sau khi được thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đầy quyền lực của bang Ohio là Mark Hanna kiên trì thuyết phục.

Tuy nhiên, Colombia đã từ chối bán quyền xây dựng kênh đào ở Panama cho Mỹ. Trước sự việc đó, Washington hậu thuẫn cho cuộc nổi dậy của người Panama và giúp nước này tuyên bố độc lập vào năm 1903. Ngay sau đó, Roosevelt đã gây sức ép với chính quyền non trẻ để ký một hiệp ước, trong đó cho phép Mỹ đào kênh và thiết lập một vùng đất gọi là “khu vực kênh đào”, có chiều rộng 16 km bao quanh con kênh và coi đó là lãnh thổ của Mỹ. Đổi lại, Mỹ sẽ đảm bảo cho nền độc lập của Panama và trả cho Chính phủ Panama 10 triệu USD cùng với 250.000 USD mỗi năm; số tiền này sẽ tăng lên hằng năm.

Để tiến hành công việc, trước hết quân đội Mỹ cử đại tá William Gorgas, nguyên là bác sĩ phẫu thuật, đến Panama để xử lý căn bệnh sốt rét rừng và sốt vàng da. Đây là một bác sĩ có nhiều kinh nghiệm trong việc điều trị những căn bệnh vùng nhiệt đới. Sau một thời gian làm việc cùng với đồng nghiệp là thiếu tá Walter Reed, bác sĩ Gorgas đã thành công trong việc tiêu diệt bệnh sốt vàng da và giảm đáng kể tỷ lệ sốt rét ở Panama. Như vậy, hai chướng ngại cho cho việc xây dựng kênh đào đã được người Mỹ loại bỏ, chỉ còn khó khăn thứ 3 là địa hình.

Nhưng cuối cùng người Mỹ cũng đã thành công sau 10 năm ròng rã, với sự lao động cật lực của hơn 70.000 công nhân. 5.600 trong số đó đã thiệt mạng vì tai nạn lao động. Tổng chi phí cho toàn bộ công trình là 400 triệu USD theo thời giá lúc đó. Ngày 15/8/1914, kênh đào Panama chính thức được khai thông ngay khi Chiến tranh Thế giới I vừa bùng nổ.

Con kênh này có chiều dài gần 80 km, chạy từ thành phố Panama bên bờ Thái Bình Dương tới Colon bên bờ Đại Tây Dương. Sự ra đời của nó là một cuộc cách mạng trong giao thông đường biển của thế giới. Hải trình từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương và ngược lại đã được rút ngắn xuống hàng chục nghìn km. Mỹ là nước có lưu lượng tàu thuyền đi qua kênh đào Panama nhiều nhất thế giới: Ước tính 12% số hàng hóa, đặc biệt là dầu mỏ, vận chuyển bằng đường biển của Mỹ đã đi qua đây.

Những biến động ở kênh đào Panama

Một góc kênh đào Panama.
Một góc kênh đào Panama.

Khi kênh đào Panama được khánh thành và những điều khoản trong hiệp ước ký với Mỹ năm 1903 có hiệu lực, thì nước cộng hòa Panama non trẻ bắt đầu gặp phải khó khăn: Ngày càng có nhiều người đấu tranh chống lại việc người Mỹ chia cắt nước họ qua con kênh. Việc Mỹ nhúng tay vào cuộc bầu cử ở Panama, cùng hàng loạt hành động can thiệp của Washington vào các cuộc nổ dậy ở đây giữa những năm 20 càng làm cho thái độ chống đối trên mạnh mẽ hơn. Do bị sức ép, nên từ cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Mỹ thực hiện chính sách không can thiệp vào Panama. Chính vì vậy, khi nổ ra cuộc đảo chính đẫm máu ở Panama năm 1931, do Arnufo Arias Madrid cầm đầu, Mỹ đã đứng ngoài cuộc.

Mặc dù vậy, sự có mặt của Mỹ tại Panama vẫn vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của quần chúng ở đây. Cuối năm 1941, tổng thống Panama Arnulfo Arias đã bị phái quân sự trong nước đảo chính, giữa lúc Mỹ đang đòi thiết lập các căn cứ quân sự bên trong lãnh thổ Panama để chuẩn bị cho Chiến tranh Thế giới II. Người kế nhiệm Arias - Ricardo de la Guardia - đã đáp ứng yêu cầu của Mỹ. Còn nhân dân Panama thì vẫn kiên quyết đấu tranh chống lại ý định mở rộng vùng đất chiếm đóng của Mỹ, yêu cầu cơ quan lập pháp nước này phủ quyết mọi hiệp ước liên quan.

Sau năm 1945, tư lệnh lực lượng Cảnh sát quốc gia - Jose Antonio Remon - giành chiến thắng trong cuộc bầu cử và trở thành tổng thống Panama. Ông Remon đã nỗ lực đàm phán với Mỹ để ký một hiệp ước mới, nhằm tăng lượng cổ phần của Panama trong số thuế thu được từ kênh đào Panama. Nhưng vị tổng thống này lại bị ám sát năm 1953, hai năm trước khi hiệp ước được thực hiện.

Việc quốc hữu hóa kênh đào Suez của Ai Cập năm 1956, cộng với tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles cho rằng, vùng đất ở “khu vực kênh đào” thuộc chủ quyền lãnh thổ của Mỹ, càng làm cho quan hệ giữa Washington và Panama thêm căng thẳng. Giữa những năm 50, sinh viên Panama liên tiếp biểu tình, đòi Mỹ trả kênh đào. Khi những người nổi dậy đe dọa tiến hành một cuộc “xâm chiếm hòa bình” vùng đất “khu vực kênh đào”, Mỹ đã tăng cường binh lính tới đây để đối phó. Họ cũng cho xây dựng một hàng rào kiên cố dọc hai bờ của con kênh và bao quanh vùng đất được coi là “khu vực kênh đào” kể trên.

Sự căng thẳng lên đến tột cùng vào tháng 1/1964, khi học sinh Mỹ ở Trường trung học Balboa, trong khu vực kênh đào, không chịu treo cờ Panama cạnh cờ Mỹ. Nhiều người Panama rất phẫn nộ đã mang theo quốc kỳ, tràn vào khu vực này và gây náo loạn suốt 3 ngày liền. Kết quả là 23 người Panama và 4 lính thủy đánh bộ Mỹ thiệt mạng.

Sau sự kiện này, chính quyền Panama tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Nhà Trắng. Trước tình hình đó, tổng thống Mỹ Lyndon B. Johson phải xuống nước, đồng ý chuẩn bị cho việc ký kết một hiệp ước mới về kênh đào Panama và khu vực xung quanh. Nhưng cuộc đàm phán chưa bao giờ đi đến thống nhất. Năm 1968, Anulfo Arias tái đắc cử chức tổng thống Panama. Ngay sau khi cầm quyền, ông đã đòi Mỹ hoàn trả vô điều kiện vùng đất mà họ đang kiểm soát. Tuy nhiên, vị tân tổng thống lại bị giới quân sự hạ bệ chỉ sau đó có 11 ngày.

Hiệp ước mới về kênh đào Panama

Sau cuộc đảo chính, tướng Omar Torrijos Herrera thuộc quân đội Panama đã lên làm tổng thống. Năm 1971, vị tổng thống này đã khởi động lại các cuộc đàm phán với Mỹ. Tuy nhiên, vụ bê bối Watergate đã làm gián đoạn các nỗ lực giải quyết vấn đề kênh đào Panama.

Tổng thống Mỹ Jimmy Carter và người đồng nhiệm của Panama - Omar Torrijos Herrera bắt tay sau khi ký kết hiệp ước Panama năm 1977.
Tổng thống Mỹ Jimmy Carter (trái) và Tổng thống Panama Omar Torrijos Herrera bắt tay sau khi ký kết hiệp ước Panama năm 1977.

Ngày 7/9/1977, 9 tháng sau khi nhậm chức tổng thống Mỹ, Jimmy Carter đã cùng người đồng nhiệm Panama - Omar Torrijos - ký hai hiệp ước về kênh đào Panama. Hiệp ước thứ nhất bãi bỏ vùng đất gọi là “khu vực kênh đào”, bắt đầu từ ngày 1/10/1979, và chuyển quyền quản lý cho chính phủ nước sở tại, đồng thời chuyển giao con kênh cho Panama từ ngày 31/12/1999. Hiệp ước thứ hai cam kết duy trì sự trung lập của kênh đào Panama, ngay cả khi có chiến tranh nổ ra để đảm bảo lưu thông của ngành hàng hải quốc tế.

Nhưng giữa lúc mọi việc đang tiến triển tốt đẹp thì tổng thống Omar Torrijos lại thiệt mạng trong một vụ tai nạn máy bay năm 1981. Từ đó, Panama lại rơi vào một thời kỳ bất ổn mới. Đại tá Manuel Noriega, cựu tư lệnh lực lượng Cảnh sát mật và là một nhân vật chịu sự chi phối của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), lên nắm quyền. Tiếp theo đó là hàng loạt các biến cố xảy ra ở Panama, trong đó có sự kiện năm 1989, khi quân đội Mỹ đổ bộ tấn công nước này, và vụ tổng thống đương nhiệm Noriega bị bắt về tội buôn lậu ma túy.

Hiện nay, tình hình ở Panama đã tạm lắng xuống với việc chuyển giao thành công chủ quyền kênh đào cho chính phủ sở tại, ngày 31/12/1999. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của nữ Tổng thống Mireya Moscoso, nước Trung Mỹ này tỏ ra có năng lực trong việc quản lý con kênh có lưu lượng tàu thuyền dày đặc nhất thế giới này.

(Theo An Ninh Thế Giới)

 

Source: sưu tầm
                    

  

Your comment

Smiley code

  • :) smiley
  • :( smiley
  • ;) smiley
  • :D smiley
  • ;;) smiley
  • :-/ smiley
  • :x smiley
  • :\ smiley
  • :p smiley
  • :* smiley
  • :O smiley

Your name
Email (is not shown)

Click here to generate new image if you can not see it.

Please input the code on above image before submit.

User comments


Back to top
MyRSS

dong



Highlight post

< December, 2008 >
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31 1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11