Welcome Guest

tranthanh's story space

   

Khám phá biển Tây

Author tranthanh
Post at: Sunday, December 21, 2008 - 8:23 AM
Image of current story
Quần đảo An Thới có tất cả 18 đảo, dân số khoảng 3.000 người, sinh sống tập trung tại hòn Thơm, cũng là hòn lớn nhất (rộng khoảng 5,7km2). Theo mùa gió, bãi biển mặt Nam và mặt chướng hòn Thơm đều sầm uất với hàng trăm ghe tàu đánh bắt, thu mua hải sản tề tựu mỗi ngày. Trong nhịp sống đang diễn ra sôi động bây giờ, ít ai biết có hai ông lão là những người đầu tiên đi khơi nguồn sống cho đảo, nay vẫn nặng tình với biển.

 

 

 

Kỳ 1: Những người đi mở đảo

 

 

Vườn dừa do ông Khưu Văn Hạp trồng ở hòn Thơm cách nay hơn 100 năm - Ảnh: T.Đức 
TT - Quần đảo An Thới có tất cả 18 đảo, dân số khoảng 3.000 người, sinh sống tập trung tại hòn Thơm, cũng là hòn lớn nhất (rộng khoảng 5,7km2). Theo mùa gió, bãi biển mặt Nam và mặt chướng hòn Thơm đều sầm uất với hàng trăm ghe tàu đánh bắt, thu mua hải sản tề tựu mỗi ngày. Trong nhịp sống đang diễn ra sôi động bây giờ, ít ai biết có hai ông lão là những người đầu tiên đi khơi nguồn sống cho đảo, nay vẫn nặng tình với biển.

60 tuổi ra đảo lập nghiệp

Tại hòn Thơm, vào năm 1904, có một người đã 60 tuổi ra đây lập nghiệp. Ông là Khưu Văn Hạp, sinh năm 1844. Hồi đầu ông chọn mặt biển phía Nam đảo cất một căn chòi rồi ngày ngày cần mẫn phát rừng trồng dừa, trồng khoai mì tích cốc phòng cơ. Suốt mấy chục năm trời ông một mình thui thủi trên đảo. Mãi đến đầu năm 1943, vợ ông là bà Võ Thị Đức và vợ chồng hai người con gái của ông cũng dẫn theo hai đứa cháu ngoại, một gái, một trai tìm ra đảo với ông.

Người cháu trai duy nhất ấy là Huỳnh Quốc Dương (Hai Tuấn), sinh năm 1935, bây giờ vẫn còn sống ở nơi ngày xưa ông ngoại đã đặt bước chân đầu tiên lên đảo. Ông Hai Tuấn nhớ lại: “Năm 1943, trên hòn Thơm này chỉ có hai căn nhà. Căn của ngoại tôi ở mặt nam đảo, căn kia ở mặt chướng. Hằng ngày ngoại tôi lên rừng xẻ ván, chặt dây mây, tìm trầm hương, hậu phác..., mang về nhà cất chờ tàu từ Vĩnh Long, Sa Đéc, Sài Gòn xuống bán”. Thấm thoắt ngoại ông Hai Tuấn đã lên tuổi trăm. Ông Hạp mất ngày 26-6-1947, hưởng thọ 104 tuổi.

Ngoại mất, cha đi làm cách mạng, gia đình ông Hai Tuấn rơi vào cảnh khó khăn, trong khi tại đảo Phú Quốc quân Pháp tăng cường bố ráp, tàu buôn từ các nơi không ghé lại hòn Thơm nữa. Hết gạo ăn, người dì ruột ông Hai Tuấn là Sáu Thủ mới tìm đường vô Cửa Cạn, gửi người sang Campuchia mua được hơn giạ lúa rẫy hạt tròn, gạo đỏ. Đầu mùa mưa năm 1947, cả nhà mang ra gieo phía sau vườn nhà.

Vụ đầu tiên ông Tuấn trồng 1 mẫu, 6 tháng sau lúa chín cắt mang vô dùng chày giã liên tục bốn ngày đêm thu được hơn 50 giạ lúa. Cả nhà sáu người ăn nhín nhịn đến mùa mưa năm sau lại phát rừng được hơn 1,2 mẫu cấy tiếp. Đến vụ thứ ba (1949), diện tích lúa tăng lên đến 1,7 mẫu. Chuyện một gia đình ở đảo xa trồng được lúa đến tai quân Pháp, chúng vu gián là tiếp tế cho Mặt trận Việt Minh nên xua mã tà ra nhổ sạch và ngăn cấm không cho trồng nữa.

 

Ông Năm Diễn là một pho từ điển sống về Phú Quốc -Ảnh: T.Đức
Hai Tuấn dẫn tôi ra thăm mộ ngoại ông. Căn nhà bao lấy ngôi mộ ngày nào giờ đã sụp mất. Cả tấm mộ bia bằng gỗ trai - loại gỗ chỉ bị mưa nắng bào mòn chứ không thể mục - cũng đã sụp xuống. Dấu ấn thời gian trùm lên vạn vật. Duy có lòng người là thêm keo sơn với biển. “Bốn đứa con tôi giờ đều sống, làm việc ở thị trấn Dương Đông. Tụi nó định rước tôi về để tiện bề phụng dưỡng, nhưng tôi không thể đi xa vùng biển này quá ba ngày được”, ông Hai Tuấn nói.

Không nghe tiếng sóng không ngủ được

Đã bước qua tuổi 88 nhưng ông Ngô Văn Diễn (Năm Diễn) vẫn còn “gân guốc” lắm. Khách đến chơi nhà ông có thể làm tù tì hơn 10 cốc rượu đế bự tổ chảng. Là dân Phú Quốc chính gốc, mới hơn 10 tuổi Năm Diễn đã theo cha dọc ngang khắp vùng biển Kiên Giang và ra tận miền Trung. Rồi Năm Diễn trở thành một chèo dọc (thuyền trưởng) nổi tiếng khắp vùng. “Gọi là chèo dọc vì hồi xưa mỗi chuyến ra khơi người thuyền trưởng đều phải ngồi chót vót trên cái cọc dựng phía trước mũi tàu quan sát để ra hiệu lệnh cho tài công điều khiển con tàu đi tìm luồng cá và tránh các bãi đá ngầm trên biển”, ông Năm Diễn nói.

 

Huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, có tổng cộng 37 đảo lớn nhỏ (chưa kể 10 đảo ngầm, còn gọi là hòn khô), tổng diện tích tự nhiên khoảng 60.000ha, dân số hơn 85.000 người. Trong số này có ba đảo lớn nhất là đảo Phú Quốc (diện tích 56.500ha, cách thành phố Rạch Giá khoảng 120km), đảo Thổ Châu (thuộc quần đảo Thổ Châu, diện tích 1.300ha, cách đảo Phú Quốc khoảng 100km) và đảo hòn Thơm (thuộc quần đảo An Thới, diện tích 570ha, cách đảo Phú Quốc khoảng 10km).

Nhiều cụ cao niên ở Phú Quốc phục lăn cái tài “bói cá” của ông Năm Diễn. Chỉ cần coi bóng biển, luồng nước và nhìn hướng chim cắc ca bay là ông biết ở đâu có cá. Sau năm 1954, Năm Diễn là một trong hai chèo dọc ở vùng biển Kiên Giang “bị bắt” đưa đi học “tầm ngư” tận bên Singapore, do một người Pháp trực tiếp hướng dẫn. Năng khiếu trời cho cộng với những kiến thức khoa học hiện đại thu được trong hơn tháng trời lênh đênh trên biển cùng các chuyên gia người Pháp càng làm Năm Diễn nổi như cồn.

Càng về sau, nguồn cá kiệt dần, nhiều người ôm con thuyền 30-40 tấn ra khơi, mỗi chuyến đi mất 4-5 phuy dầu mới đánh đầy, còn Năm Diễn chỉ đi một ngày, mới dùng hết một phuy 220 lít là tàu đã đầy ắp. Thế nên các chủ tàu, chủ nhà thùng nước mắm luôn tranh nhau mời cho được Năm Diễn về làm chèo dọc. Bây giờ, trong số bảy người con của ông chỉ có người thứ sáu Ngô Hoàng Nam là kế tục được kinh nghiệm của cha và trở thành một chèo dọc lừng lẫy ở Phú Quốc. Sang thế hệ thứ ba cũng chỉ có một đứa cháu ngoại kế tục được nghề của ông.

Cuộc đời Năm Diễn cũng lắm thăng trầm. Có giai đoạn bốn năm ông được Việt Minh cài vào làm thư ký xã Lộc Hòa (Dương Tơ ngày nay) để thu thập tình hình. Sang những năm đầu thập niên 1970, chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và chính sách bình định, Năm Diễn lại phải dẫn bảy người con chạy ra hòn Thơm lánh nạn. Dạo đó trên hòn Thơm mới có chừng 4-5 hộ gia đình. Nhiều người coi Năm Diễn - người cao tuổi nhất ở hòn Thơm - là một pho từ điển sống về Phú Quốc. Bây giờ ở tuổi 88, ngày ngày ông vẫn đi bộ từ nhà ra tới bãi biển để được nghe tiếng sóng vỗ ì oạp. Ông bảo: “Ở miết quen rồi, hôm nào không nghe tiếng sóng không ngủ được”.

 TẤNĐỨC

 http://www.donatourist.com/images/dao%20pq.bmp

Kỳ 2: Người dẫn đường ở đảo

đảo

 

Ông Tư Mai dưới bóng cây kơnia ở rừng già Phú Quốc -Ảnh: Q.Vinh

TT - 1. Trên đường tìm đến nhà Tư Mai - Phạm Văn Mai, 53 tuổi, ở ấp Suối Cát, xã Cửa Dương (huyện Phú Quốc), nhiều người nói với tôi rằng Tư Mai là người giỏi đi rừng, như sói của rừng xanh.

Từ lúc cùng cha sinh sống và khai khẩn đất Phú Quốc đến nay, bàn chân ông đã đi khắp 99 ngọn núi từ bắc đảo đến nam đảo, từ hòn Chảo qua hòn Hàm Rồng, từ đỉnh núi Chúa cao nhất đảo đến khu vực lũng vực sâu ở sông Rạch Tràm, sông Dương Đông. Ông biết nhiều chuyện ly kỳ như cổ tích của rừng đảo Phú Quốc.

Khi đến nơi, trước mặt tôi ông Tư Mai là người hành nghề vá ép xe. Cơ ngơi của ông là ngôi nhà tôn đơn sơ, nơi nương náu của vợ chồng ông và sáu người con.

2. Thời chiến tranh, ông Phạm Văn Thái, cha Tư Mai, phải ẩn trong rừng chế tạo vũ khí chống Mỹ. 10 tuổi, Tư Mai đã là người rừng trẻ thơ, băng rừng đưa tin, tiếp tế gạo thuốc cho cha và những người hoạt động bí mật. Tư Mai vừa là người hậu phương, vừa là người tiền trạm rong ruổi suốt hai mùa nồm - chướng ở biển rừng Phú Quốc, cứ thế mưu sinh và liên lạc, sống trọn đời với Phú Quốc. Ông nói ở nơi lắm thú dữ âm u nhất là nơi an toàn nhất và cũng là nơi kỳ thú nhất trong cuộc đời rừng rú của ông.

Đi rừng, cuộc trò chuyện của Tư Mai với muông thú cứ liên hồi huyên náo ban mai. Ông kể: “Mấy năm qua tôi đã đi với nhiều nhà khoa học, phát hiện hàng chục loài lan quý hiếm trong đó có lan vân hài, âm lan núi, ái lan lá đẹp, hàng chục loài bò sát, linh trưởng, khỉ đuôi dài, voọc xám, voọc bạc”. Ông nói vui: “Tôi chỉ thua mấy ổng (các nhà khoa học) tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha…, chứ còn tiếng của thú rừng ở 99 ngọn núi này thì chưa biết ai hơn ai”.

Chỉ nghe tiếng khỉ kêu, Tư Mai biết con nào đực con nào cái. Ông biết mọi sự chuyển động của loài côn trùng kiến bọ đều báo hiệu một sự thay đổi theo quy luật năm tháng của rừng xanh. Ông biết từng ngõ ngách, biết mọi cách băng rừng, vượt suối, lên vồ xuống ảng… Có lẽ vì vậy mà những người ở đây gọi ông bằng biệt danh “người dẫn đường số một” ở rừng đảo Phú Quốc rộng bao la này.

 

Ông Tư Mai (bìa phải) cùng lực lượng kiểm lâm ở bãi Thơm ươm giống cây rừng gỗ quý -Ảnh: Q.Vinh

 

Vườn quốc gia Phú Quốc (Kiên Giang) rộng 31.422 ha, được quy hoạch thành ba phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 8.786 ha, phân khu phục hồi sinh thái 22.603 ha và phân khu hành chính - dịch vụ - nghiên cứu khoa học 33 ha.

Rừng có nhiều hệ sinh thái quý hiếm như: rừng cây gỗ lớn họ dầu, rừng tràm tập trung, rừng tràm rải rác xen lẫn đồng cỏ tranh, rừng tái sinh sau nương rẫy. Nơi đây được xem là một trong những khu rừng nguyên sinh quý hiếm vào loại nhất nhì VN.

Theo đề án tổng thể bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, mục tiêu đến năm 2020 rừng tại Phú Quốc được che phủ với tỉ lệ trên 75%. Các biện pháp cụ thể thực hiện: tăng cường trồng lại rừng ngập mặn, chăm sóc bảo dưỡng rừng trồng trên đất úng chua phèn. Thực hiện các giải pháp làm giàu rừng ngập mặn bằng việc đa dạng hóa các loài thực vật, động vật thủy sinh. Quy hoạch khoanh vùng các rạn san hô, thảm cỏ biển để tiến tới xây dựng khu bảo tồn san hô, cỏ biển. Bảo vệ nguyên trạng các hệ sinh thái rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn trên đảo.

Mỗi cánh rừng, con suối ở đây với Tư Mai là một kỷ niệm, một câu chuyện độc đáo về rừng. Chuyện rừng Hàm Ninh ngày trước có con rắn khổng lồ, thân như cây cóc nuốt thốc một con nai nằm vắt ngang lối đi mấy ngày liền.

Chuyện con trăn say mật ong nằm cuộn tròn được ông bỏ bao đem về làm gối nằm. Chuyện con sông Cửa Cạn 24km dài nhất đảo từng xảy ra cảnh cá sấu táp con heo rừng đứt làm đôi. Chuyện rừng xanh lúc ngớt tiếng súng, khi mùa xuân về muông thú giao duyên, giao hoan và những trận tam bành của những con khỉ đực tranh nhau con cái làm thẹn cả núi  rừng…

3. Ngày trước ai nói Tư Mai mưu sinh bằng cách hạ sát thú rừng, chim cá, ông bảo đó chỉ là thói quen bản năng để sinh tồn làm vốn nuôi bầy con. Thói quen sinh tồn ấy đã đẩy đưa ông đến những cánh rừng sâu hiểm trở chưa bàn chân người đến. Tư Mai còn nói như sám hối mỗi khi nghe tiếng khỉ ché ché tru lên.

Trong một lần vào rừng sâu săn thú, ông bắn trúng một con khỉ mẹ đang cho con bú trên cành. Khỉ mẹ tru lên thảm thương, nó cố gượng trao đứa con lại cho khỉ cha rồi chúi đầu xuống đất. Khỉ cha lao mình qua cành cây khác, nhưng vẫn không thoát viên đạn thứ hai, nó tru tréo dữ dội rồi ôm con vào lòng loạng choạng rơi xuống. “Chú khỉ con mất cha và mẹ được tôi đem về nuôi với ý định sau này sẽ thả vào rừng. Thế nhưng khi nó lớn lên đã không còn bản năng hoang dã tự tìm mồi được nữa”.

Nói đến đây Tư Mai đứng chôn chân. Ông kể: “Năm 47 tuổi, nhiều đêm mưa rả rích, mỗi lúc nhớ đến tiếng thét xa con của khỉ mẹ, tôi thấy mình tội lỗi và nói với vợ thề giải nghệ, trả ơn cho rừng”.

4. Tư Mai vẫn rào rào kéo tôi băng rừng, ngược sông Rạch Tràm qua ngã ba sông nơi hợp lưu của ba dòng suối trắng, đỏ, đen lạ mắt lặng lờ chảy ra biển. Núi đảo hội tụ nhiều loài hoa rừng đa sắc, nhiều sinh cảnh từ triền dốc đến bình nguyên, đến cánh rừng ngập mặn thoai thoải dập dềnh gợn gió.

Dù đã trăm lần qua nhưng ông vẫn tần ngần thổn thức, chính lúc “ngây rừng” ông tự bạch: “Với tôi, hiểu rừng mới là người giàu có!”. Ông biết trên chóp núi kia có một chồi hoa nhỏ để nâng niu, một sinh vật lạ để ghi dấu, gạch chéo trên bản đồ. “Tôi chờ các nhà khoa học tới để nghiên cứu bảo tồn. Cả vùng rừng Phú Quốc, cả vùng biển Tây này còn biết bao nhiêu điều hay chưa được khám phá”, ông nói. Hèn gì mà hạt phó Hạt kiểm lâm vườn quốc gia Phú Quốc Phạm Viết Giáp nói rằng: “Đi với Tư Mai sẽ luôn ngạc nhiên, ngưỡng mộ và cảm thấy yêu rừng hơn”. 

Tư Mai nói: “Tôi sẽ không sát thú, không thỏa hiệp với kẻ xấu phá rừng, ai làm giàu thêm cho rừng như các nhà khoa học, kiểm lâm thì tôi theo”. Ông bảo không thể nào nhớ hết tên hàng trăm loài hoa kiêu sa và dân dã ở rừng giàu sinh cảnh này. Ông mong một ngày nào đó các loài hoa cây cảnh quý từ rừng được nghiên cứu nhân giống, ngày đó ở Phú Quốc sẽ có những vườn hoa, những con đường hoa rực rỡ theo mùa để từ đó dẫn dắt bá tánh đến với rừng dù chỉ một lần trong đời.

Khi đi qua một khe suối nhỏ ở rừng Bãi Bổn, có tiếng một con khỉ gào thét liên hồi, ông bảo khỉ cái già đấy. Sau đó tiếng kêu tắt lịm, từ trong rừng một thanh niên chở một cái bao nhỏ bên trong rỉ máu chạy thục mạng. Tư Mai đứng bất động, không nói được lời nào nữa. Kẻ bất lương lại làm điều bất chính với núi non rừng thẳm. 

Tiễn tôi rời rừng, Tư Mai cười bảo: “Muốn đi rừng phải giữ được rừng, giữ được rừng sẽ còn có nhiều người dẫn đường như tôi”.

QUANG VINH

 

http://www.dulichanz.com/Images/phu_quoc_southern_islands.jpg

 Kỳ 3: “Nữ chúa” hòn Mây Rút

Rút

 

Bà Bảy Yên - người đã khai phá hòn Mây Rút cách nay 50 năm - Ảnh: T.Đức
TT - Năm 2003, huyện Phú Quốc có thêm xã mới Hòn Thơm. Về địa lý, xã có đến 18 hòn đảo lớn nhỏ, nhưng hiện tại chỉ có hòn Thơm, hòn Rỏi, hòn Mây Rút và hòn Dơi là có dân cư sinh sống. Ở hòn Mây Rút - đảo xa nhất - có ba người đàn bà suốt mấy chục năm qua ngày ngày vẫn ra biển.


1. Người ta giới thiệu với chúng tôi một “lão bà bà” lưng còng, tóc trắng, mà mọi người thường gọi là “nữ chúa” hòn Mây Rút. Bà tên Bảy Yên, năm nay đã 81 tuổi, quê quán ở mãi Hòn Chông, huyện Kiên Lương, theo chồng ra đây lập nghiệp đã hơn 50 năm.

Từ cảng An Thới, mất hơn một giờ đi ghe máy vượt qua gần chục hoang đảo thuộc quần đảo An Thới, chúng tôi mới đặt chân lên được hòn Mây Rút. Trong căn nhà khá tinh tươm dưới rặng dừa cao chót vót, “nữ chúa” bồi hồi kể lại câu chuyện thời đi mở đảo: “Hồi mới đặt chân lên đây, vợ chồng tôi chỉ có duy nhất một cái cưa. Hằng ngày chồng tôi đi rừng phát cây trồng dừa, tôi ra biển bắt nhum, câu mực về ăn độn với khoai rạn (một loại củ mọc hoang trên rừng).Những tháng nắng tìm các hốc đá ven biển cạo lấy muối mang về để dành ăn. Nhiều bận biển động cả tháng trời, đói không có cháo ăn, đau không thuốc thang chạy chữa, lạnh không có quần áo mặc”.

Sau thời gian sống cô độc trên hoang đảo, rồi vợ chồng “nữ chúa” cũng đóng được chiếc ghe nhỏ để chèo vào An Thới, dùng các sản vật hái lượm trên rừng đổi lấy các vật dụng cần thiết. Có bàn tay con người, cả hoang đảo rộng hơn cây số vuông dần thay da đổi thịt. Vườn cây trái đẩy lùi dần những cánh rừng rậm. Đảo ngày thêm đông vui khi những đứa con của bà lần lượt ra đời. Nhưng cuộc sống kham khổ và sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã cướp đi sinh mạng của sáu trong tổng số 15 người con của bà.

Người ta gọi bà lão lưng còng tóc bạc là “nữ chúa” hòn Mây Rút bởi bà là chủ của đại gia đình hơn 30 người gồm con, cháu, chắt đang định cư ở đây. Không chỉ vậy, bà còn là người phụ nữ có tuổi đời cao nhất, người gắn bó lâu năm nhất với quần đảo An Thới hơn 3.000 dân này.

 

Bà Bảy Yên và hai con gái Phạm Thị Nữ, Phạm Thị Út - Ảnh: T.Đức

2. Tám Nữ - Phạm Thị Nữ, người con thứ tám của “nữ chúa”- theo mẹ ra đảo hồi mới biết bò, bây giờ đã qua tuổi 50. Lớn lên ở xứ biển đìu hiu, quanh năm suốt tháng chỉ làm bạn với sóng biển và cây rừng nên Tám Nữ quen với kiểu nói chuyện rổn rảng như cãi nhau với hàng xóm: “Hồi trẻ tui chuyên đánh (mặc) tà lỏn đi câu rạn và chèo ghe vô An Thới, hòn Thơm đổi cá lấy gạo, muối. Riết rồi quen nên hễ mặc quần dài vào là thấy nực nội, vướng víu không chịu nổi. Lại thêm cái tật ăn nói bỗ bã của tui mà không thằng nào dám xáp vô. Chừng đứa em làm mai ổng cho tui, thế là cưới. Cưới rồi mới biết mặt chồng. Còn cha chồng thì phải tới 19 năm sau tui mới về dự... đám giỗ ổng!”.

Vợ chồng Tám Nữ không có con nên bàn nhau đi xin một bé trai về nuôi. Chồng Tám Nữ có cái tên khá “mềm mại” Hà Ngọc Đôi, Tám Nữ bèn đặt tên cho thằng nhỏ là Bạn - Hà Ngọc Bạn, năm nay đã 15 tuổi. Hằng ngày cha con Đôi - Bạn đi câu bằng xuồng máy, còn Tám Nữ câu bằng bè tự kết. Vậy mà nhiều bữa thùng cá trên bè của Tám Nữ cân cho mối được những 200.000 đồng, trong khi cá của hai cha con Đôi - Bạn người ta trả có 90.000 đồng.

Hỏi Tám Nữ được gì, mất gì khi gắn đời mình với biển, Tám Nữ phá lên cười: “Nhiều người đến đây tham quan, đâu biết rằng cha mẹ, anh em tui đã lao động hết mình mấy chục năm trời mới biến đảo hoang này thành một hòn đảo xanh tươi như ngày nay. Đó là phần thưởng lớn nhất của chúng tôi. Còn mất thì tui có gì đâu mà mất!”.

Căn nhà của gia đình bà Bảy Yên ở hòn Mây Rút - Ảnh: T.Đức
3. Phạm Thị Út - cô con gái út của bà Bảy Yên - năm nay mới 34 tuổi nhưng đã có tới sáu đứa con. Hằng ngày, thằng nhỏ nhất ở nhà với bà ngoại, còn năm đứa lớn 5-16 tuổi đều phải ra biển tìm cái ăn. Hôm chúng tôi đến, Út đang cắm cúi ngồi kết thêm chiếc bè bằng thùng xốp vớt được trên biển để các con bơi ra các rạn đá, san hô câu cá. Tụi nhỏ học nghề từ mẹ và bà ngoại. Một chữ cắn đôi Út cũng không đọc được, nhưng tính siêng năng, hay làm nên ngày cưới chồng, Út được cha mẹ “tặng” nguyên một hòn Dơi rộng cả cây số vuông nằm sát bên hòn Mây Rút làm của hồi môn.

Hồi đầu Út giao cho chồng khai hoang trồng thêm dừa, mì, bắp làm lương thực, còn Út ra biển. Gần 20 năm qua Út đã rong ruổi khắp các rạn quanh hòn Dừa, hòn Rỏi, hòn Rầm Ghì, hòn Hay, hòn Móng Tay, hòn Dăm... vô tới mũi Đèn, mũi Ông Đội trong An Thới để câu mực, cá mú, cá bè, cá thu. Hôm nào đi xa, Út dậy sớm nấu cơm mang theo để trưa dùng, xong câu tiếp tới chiều tối mới quay về. Nhiều bận không mang thức ăn theo nhưng do đi trúng bãi gặp toàn cá thu, cá bốp, mê quá Út đành uống nước lã cầm hơi.

“Biển cả nuôi mình nhưng nó cũng hay trở chứng lắm. Có khi thấy trời yên vậy nhưng đùng một cái nổi sóng ào ào, trở tay không kịp. Tui suýt mấy lần mang cái bụng bự này “đi xa” luôn rồi. Có lúc nằm đêm suy tính hay là bán bớt một ít đất đai ra mặt chợ ở cho khỏe cái thân, nhưng rồi nghĩ lại cả đời cha mẹ mình đã gắn bó với hòn đảo này, nó như một phần trên cơ thể mình vậy, không thể nào xa rời được”- Út nói.

Nhìn cái bụng bầu căng tròn của Út, chúng tôi ái ngại: “Sao chị chưa chịu nghỉ, lỡ đang đi biển mà bị đau bụng thì biết ứng phó thế nào?”. “Thì đã có má tui đây. Hồi sanh mấy đứa trước, má tui làm mụ cho tui không đó, có sao đâu. Tui đi biển một mình quen rồi, sá gì”. Rồi như sực nhớ ra, Út tỉnh rụi nói tiếp: “Thiệt bụng, trễ hai ngày rồi đó. Bác sĩ trong Dương Đông kêu vô đó coi sao, nhưng tui tính kết xong cái bè này cái đã”.

TẤN ĐỨC

http://www.dulichmuasamgiare.com/dnf/dnfdesc/tour/images/Phu%20quoc.jpg

Kỳ 4: Dấn thân ra đảo cứu người 

cứu người

 

Thầy thuốc Nguyễn Văn Mười đã có hơn 50 năm làm phước cứu người - Ảnh: Q.Vinh

TT - Ông Mười ngồi thiền miên man hàng giờ trên phiến đá chóp núi, lơ phơ chòm râu tuổi 87 đã ngả màu mấy chục năm rồi.

Chùa không mõ chuông, không thí chủ, không thùng công đức, chỉ có người bệnh đến gõ cửa gọi ông: “Ông Mười có nhà không ông Mười ơi?”. Ông Mười Chuông Am - Nguyễn Văn Mười, ở khu phố 10, thị trấn Dương Đông (Phú Quốc, Kiên Giang) rời phiến đá bàn thiền.


50 năm thăng trầm cùng biển đảo

Phòng khám của chùa ông Mười Chuông Am thoáng đãng nằm dưới chân chóp núi Chùa lúc nào cũng ngào ngạt thảo dược. Ngón tay run run, đôi mắt líu nhíu, ông bắt mạch, hỏi bệnh và nói những câu đúc kết làm người bệnh tỉnh người, răm rắp nghe theo. 50 năm làm thầy bốc thuốc là 50 năm cuộc đời ông thăng trầm cùng biển đảo Phú Quốc, cứu người, góp sức cùng người dân xứ này đi lên.

Ông nói từ nhỏ ông đã hứa với cha sẽ đi tu và dấn thân học nghề thuốc trị bệnh cho mọi người, không màng danh lợi, phú quý, dục vọng. Cha đồng ý, ông dốc sức đến trường theo thầy giỏi học nghề thuốc trui rèn đến tinh thông. Ngày mãn khóa, thầy khoác vào vai ông túi vải chứa đầy sách quý và bảo: “Con hãy đến nơi khó khăn nhất lo tu thân hành đạo trị bệnh cứu người”.

Theo lời thầy, chín năm kháng Pháp, ông đến Sài Gòn tá túc cửa Phật và hoạt động cách mạng. Nhưng được một thời gian bị bọn chiêu hồi tố giác, ông xin ra đảo Phú Quốc dựng chùa tiếp tục hành đạo cứu người. Ông đã đến chùa Phước Thiện làm thầy thuốc. Lúc đó trên đảo hoang sơ chỉ có khoảng 700 dân rải rác chứ không phải 80.000 dân tập trung đô hội như bây giờ. Tại núi Chùa, ông đã “tương kế tựu kế” liên hệ với cơ sở để quận trưởng Phú Quốc cấp giấy cho phép trồng thuốc nam chữa trị bệnh cho dân và được tín nhiệm. Đó cũng là điều kiện tốt cho ông làm đầu mối cơ sở hoạt động cách mạng trong thời gian dài.

 

Ngày ngày hai buổi sớm chiều người ta thường thấy trên mỏm đá ông Mười ngồi xếp bằng thiền niệm hàng giờ - Ảnh: Q.Vinh

Ông kể năm 1967, lực lượng Hắc báo biệt kích càn quét dân lành truy tìm cơ sở cách mạng. Lúc đó chúng tràn vào ấp Cây Kè trên đảo đốt nhà, hãm hiếp, giết chóc. Ông Mười đã lập bằng chứng tội ác và nhờ bà con ký tên thưa lên phủ tổng thống lúc đó. Không ngờ lá đơn do ông Mười, lúc đó là trụ trì chùa Tịnh Độ cư sĩ, gửi đã có tác dụng. Ngay sau đó, lực lượng quân cảnh xuống ốp hết trung đội Hắc báo đưa lên trực thăng, lùa xuống tàu biển về đất liền. Nhưng sau vụ cứu dân đợt đó, ông Mười bị theo dõi làm khó.

Ông nói: “Tui làm phước mua lòng vậy mà cũng bị theo dõi khó coi”, nhưng mỗi lúc khó khăn, ông lại chiêm nghiệm lời hứa với cha “làm thầy cứu nhân khó mấy cũng vững lòng”. Sau Mậu Thân 1968, bị bố ráp, ông Mười phải trôi dạt xuống Nam Đảo để tiếp tục hành nghề thầy thuốc, nhưng theo ông “là để tránh tai mắt bọn chiêu hồi”. Rồi một lần do sơ suất khi quên tắt Đài Tiếng nói Việt Nam phát từ vùng giải phóng và ngủ thiếp đi, ông đã bị bọn thám báo phát giác gán tội. Ông Mười lại buộc theo ghe ngư dân ra tận đảo Thổ Châu gầy dựng lại từ đầu.

Vườn thuốc nam trên núi Thổ Châu lại xum xuê xanh màu tánh dược. Tại đảo, ông đã chữa trị và được trưởng thôn là một người giỏi tiếng Campuchia lúc đó tín nhiệm. Năm 1975, khi Phú Quốc, Rạch Giá giải phóng cũng là lúc ông cùng bà con khuyên binh lính trên đảo Thổ Châu buông súng, theo tàu vào đất liền để được khoan hồng, sum họp gia đình. Khi ông dự định trở về đất liền thì bất ngờ đảo Thổ Châu bị lực lượng vũ trang từ Campuchia chiếm đóng.

Chúng lùa hết dân lành xuống tàu để kéo về Hòn Ông, Hòn Bà bên đất Campuchia. Lúc đó ông trưởng thôn đã xin cho ông ở lại đảo để chữa trị bệnh, nhờ vậy ông có cơ hội trinh sát vẽ sơ đồ tác chiến giúp bộ đội tiếp cận đảo hiệu quả, đánh úp giải phóng đảo. Sau đợt đó, ông được Bộ Quốc phòng đưa trực thăng ra Hà Tiên báo cáo thành tích “tay không góp phần cùng quân dân giải phóng đảo Thổ Châu”.

Gieo nhân đức

Sau năm 1975, ông Mười lo xây dựng phòng thuốc nam và tập huấn đội ngũ thầy thuốc ở đảo Phú Quốc. Nhiều dịch bệnh hoành hành ở đảo đã bị dập tắt. Anh Văn Hùng, một cán bộ ngành thuế, có con bị sốt xuất huyết năm 1989 được cứu sống, cho biết nhờ có ông Mười mà hàng chục đứa trẻ ở đảo thoát chết. Năm đó sốt xuất huyết bùng phát, trẻ sốt cao nằm la liệt, bác sĩ trên đảo đã khuyên nên đưa các cháu đến thầy Mười hốt thuốc nam. Rất nhiều người bệnh nặng khác ở đảo cũng đã được ông mang lại cuộc sống.

Bây giờ, ở tuổi 87, ông Mười vẫn thường xuyên tổ chức anh em thiện nguyện đi khai thác thuốc núi cho các phòng thuốc nam Thiện Đức ở nhiều tỉnh thành. Ông Mười nói: “Chùa tui không đặt thùng công đức, tui làm thuốc có người cho bao gạo, chai nước tương là mãn nguyện. Làm nhân đạo không phải để khuếch trương hay quảng cáo. Tui không cần chùa cao Phật lớn, chỉ cần tấm thân thanh tịnh, vừa làm thuốc vừa chân tu là được rồi”.

Những người thường lui tới cùng ông Mười trồng tỉa thuốc nam và lo nhang đèn công quả là những người dân đã một thời đồng cam cộng khổ cùng ông. Bà Nguyễn Thị Ba - từng làm giao liên bị tra tấn - đúc kết: “Thời xưa nhờ ông Mười mà nhiều lần bọn ác ôn không hà hiếp dân, bây giờ cũng nhờ ông mà dân nghèo có nơi thuốc thang chữa trị”. Đến bây giờ ông Mười vẫn giữ lời hứa với người cha là sẽ tu hành và làm thầy thuốc mà không màng đến danh vọng hay quyền lợi gia đình, cá nhân. Ông muốn dành cả phần đời còn lại chăm chút cho phòng thuốc nam mà ông đã cất công gầy dựng, đúc kết kinh nghiệm từ hơn 50 năm qua mà ông muốn được lưu truyền và phát huy.

Một cuộc đời sống động, đến tuổi 87 vẫn leo núi tầm thuốc, khỏe mạnh như người bình thường. Anh Văn Hùng, một đệ tử của ông Mười, cho biết mới đây ông Mười đã tự đưa tay chân cho anh em đệ tử trói lại và thả xuống bãi biển Vũng Bầu (Phú Quốc). Ông Mười ngồi trong tư thế thiền nhưng vẫn nổi trên mặt nước khoảng 10 phút. Ông bảo làm vậy chỉ muốn chứng minh cho mọi người biết người tu hành đắc đạo khi xuống nước vẫn không chìm, hay như lửa đốt vẫn không cháy.

Ngày ngày hai buổi sớm chiều khi đi ngang qua chùa ông Mười Chuông Am ở khu phố 10, người ta vẫn thường thấy trên mỏm đá một ông già ngồi xếp bằng thiền niệm hàng giờ. Dáng ông ngồi như một đạo sĩ, dáng của một người cả đời dấn thân phục vụ y học mà ông thường nói là “gieo gì gặt nấy”. Ông nói: “Tui gieo nhân đức để rồi hôm nay đất nước độc lập, được tự do hành nghề, tu hành là điều mãn nguyện rồi”.

QUANG VINH

http://farm3.static.flickr.com/2315/2459722750_89eb878b2d.jpg

Kỳ cuối: Lời thề đi xây dựng đảo

dựng đảo

TT - Một ngày cuối tháng 4-1992, tại nhà anh Huỳnh Bình Khởi (Tư Bình) ở hòn Củ Tron, quần đảo Nam Du, huyện Kiên Hải (Kiên Giang) có một nhóm bảy người bạn tuổi đời trên dưới 40, gồm: Lê Minh Chiến (Năm Chiến), Nguyễn Văn Thắng (Hai Thắng), Danh Diện, Huỳnh Văn Dợn (Hai Dợn), Đinh Văn Giáp (Ba Giáp), Huỳnh Văn Kịch (Sáu Kịch) và chủ nhà Tư Bình đã nâng ly rượu thề nguyền: cả bảy anh em cùng nhau đưa vợ con đi lập nghiệp ở đảo Thổ Châu. Dù trong hoàn cảnh nào, bảy gia đình cùng thề “sống chết có nhau, không ai được quay lưng”.

 

Nghe đọc nội dung toàn bài:
 

 

Sau 15 năm lập xã, Thổ Châu bây giờ luôn tấp nập ghe tàu - Ảnh: T.Đức


Những gia đình tình nguyện ra đi

 

Quần đảo Thổ Châu gồm tám đảo lớn nhỏ, nằm ở địa đầu tây nam nước ta, cách mũi Cà Mau khoảng 160km về phía tây bắc và cách đầu mút phía nam đảo Phú Quốc khoảng 100km.

Thời Pháp thuộc, đảo Thổ Châu có tên trên bản đồ là Poulo Pangjang. Tháng 5-1973, chế độ Sài Gòn lập xã Thổ Châu (bao gồm đảo Thổ Châu và một số đảo lân cận), thuộc quận Kiên Thành và đến năm 1974 lại sáp nhập vào quận Phú Quốc.

Ngày 10-5-1975 Khơme Đỏ xâm chiếm và bắt dân cư trên đảo đưa lên tàu chở đi sát hại. Từ 23 đến 25-5-1975 các lực lượng của ta tiến công giải phóng Thổ Châu và các đảo lân cận. Suốt một thời gian dài Thổ Châu không có dân cư. Mãi đến năm 1992 mới có dân cư và sau đó tiến hành lập xã.

Biết chuyện có người nói: “Mấy cha nội ăn trúng cá độc bị sao rồi đó, chứ hòn Thổ Châu cách Củ Tron cả trăm cây số, trời yên biển lặng chạy ghe cũng mất cả ngày trời mới tới chứ ít đâu. Mà từ hồi giải phóng tới giờ đã gần 20 năm có thấy ai dám ra đó lập nghiệp đâu, họa hoằn có mấy chiếc tàu đánh bắt ngoài khơi gặp lúc dông bão, cướp biển tấn công mới chạy vào trú  ẩn. Mấy chả ra đó là chết chắc!”. Thế nhưng Tư Bình - lúc đó đang làm chủ tịch xã An Sơn, huyện Kiên Hải - và những người bạn của anh vẫn kiên trì thuyết phục vợ con và chuẩn bị hành lý, chờ thời tiết thuận lợi thì khởi hành.

Và rồi sáng 14-5-1992, cả bảy gia đình, già trẻ, gái trai 34 người lỉnh kỉnh mang vác đồ đạc xuống tàu lên đường ra đảo. Gần một ngày đêm lênh đênh trên biển rồi họ cũng đến được Thổ Châu. Từ dưới bãi, đoàn người vẹt cây rừng đi lên, lần hồi tìm đến xóm dừa - nơi ngày trước những người dân bị Khơme Đỏ sát hại sinh sống - để dựng nhà ở tạm, khởi đầu cuộc mưu sinh trên vùng đất mới.

Hằng ngày những người đàn ông lên rừng bẻ măng, phá cây rừng để trồng khoai, trồng dừa làm thực phẩm. Phụ nữ ra các rạn đá ven biển câu cá về làm thức ăn. Cuộc sống tự cung tự cấp, vì hồi đó chưa có tàu khách ra Thổ Châu. “Khó khăn đủ bề, vậy mà mới hơn một tháng sau khi đặt chân đến đảo, vợ của Danh Diện là Tăng Thị Hương “tự dưng” sinh con, đặt tên là Ngọc Châu. Do mẹ ăn uống thiếu chất dinh dưỡng nên con Châu èo uột như tàu lá héo, có nguy cơ không sống nổi, nên mấy anh em họp lại cử tôi vào Phú Quốc tìm bè bạn xin đồ chở ra tiếp tế. Tôi đi chừng tuần được mấy thùng đường, sữa, rau quả, quần áo trẻ em... kịp làm quà con Châu tròn 2 tháng tuổi”, Tư Bình nhớ lại.

Cũng trong chuyến đi này, Tư Bình đã “lấy hết can đảm” để làm một việc mà bây giờ nhiều chị em vẫn nhắc: anh đi quyên góp đồ lót và băng vệ sinh mang ra, vì ở ngoài đảo không thể tìm mấy thứ cần thiết đó cho phụ nữ. Thế mới thấu hết tình người nơi đảo xa!

Sau nhóm của Tư Bình lại có thêm gần 20 gia đình tình nguyện ra xây dựng đảo Thổ Châu, trong đó có đại gia đình gần 30 người là con cháu của ông Lê Trắc (Tư Trắc) ở xã Mong Thọ, huyện Châu Thành (Kiên Giang). Ông Tư Trắc nguyên là cán bộ lão thành tỉnh Kiên Giang, trước khi nghỉ hưu là giám đốc trại giống lâm nghiệp của tỉnh Kiên Giang. Là người mê trồng trọt, chăn nuôi, ông lần lượt mang nhiều loại cây trồng: chanh, ổi, khoai lang, bầu bí, rau quả... cho tới các vật nuôi đặc trưng xứ đồng như lươn, ếch, cá lóc, cá trê... cả ong mật, gà, mèo, chó ra đảo cho đủ “hương vị” quê nhà khi sống nơi xa. Nhưng người ta nhắc nhiều đến ông trong vai trò người xây dựng chính quyền của xã. 

Những người “mở mũi”

 

Ông Tư Trắc - một trong những người có công xây dựng xã Thổ Châu những ngày đầu - Ảnh: T.Đức   

Tháng 4-1993, UBND xã Thổ Châu (lâm thời) được thành lập, trụ sở đặt luôn tại nhà chủ tịch xã Tư Bình. Hồi đầu (và cho tới tận bây giờ) xã chỉ có một ấp duy nhất là ấp Bãi Ngự với chừng 30 nóc nhà, sau đó dân cư đông dần lên, nhất là trong những tháng trời yên biển lặng (từ tháng mười một đến tháng sáu năm sau), tàu bè đánh bắt từ các tỉnh khác tựu về. Ông Lê Trắc lại đứng ra “mở mũi” trong cách làm ăn để mọi người làm theo. Chuyện mà đến bây giờ Tư Trắc vẫn còn nhớ là hồi đó bộ bạc “xi-túc” của máy ghe trị giá có 15.000 đồng, nhưng muốn mua phải tốn hơn nửa triệu đồng chi phí ăn ở đi lại tận Rạch Giá.

Vậy là ông về gọi mấy người con hùn tiền lại đóng một chiếc ghe 17 tấn ra vào đất liền mua hàng hóa về bán lại, để gia đình có thu nhập mà nhiều người dân ở Thổ Châu cũng bớt khó khăn. Thấy ông làm, một số người cũng làm theo, đến khi hàng hóa ở Thổ Châu giá không còn chênh lệch quá cao so với ở đất liền thì Tư Trắc nghỉ, chuyển qua trồng ổi, nuôi heo, dê, cá lóc.

Chủ tịch xã Tư Bình cũng năng động không kém. Hết đóng ghe 50 tấn đi đánh bắt xa bờ, ông lại nhảy qua làm nhà máy nước đá, rồi đóng lồng nuôi cá, nuôi mực. Cái nào Tư Bình cũng làm “ba mớ” rồi nghỉ. Anh nói: “Tui mồi đó, ai thấy được thì làm theo. Chừng họ thành công thì tui nghỉ”. Ngay cả chức chủ tịch xã Thổ Châu, Tư Bình cũng “mồi” luôn. Hồi mới giải phóng, anh đã là huyện đội phó huyện An Biên (Kiên Giang). Đang ngon trớn, Tư Bình lại tình nguyện về làm bí thư kiêm chủ tịch xã An Sơn. Rồi khi lập xã Thổ Châu, anh lại xông ra xây dựng chính quyền, làm chủ tịch xã một nhiệm kỳ, rồi sau đó chuyển cho người khác vì: “Tui dốt, hồi nhỏ đâu được học hành gì. Để người khác làm hay hơn”.   

Nhờ có những con người tình nguyện, dấn thân ra xây dựng đảo, nên bây giờ Thổ Châu đã phát triển về mọi mặt. Hằng ngày hơn 200 ghe tàu các nơi tựu hội về đây để mua bán sản phẩm đánh bắt được. Hằng tuần đều có tàu khách ra vào, nối đất liền với đảo xa. Xã cũng đã có trường học, trạm xá và điện thoại liên lạc bất cứ lúc nào. Tăng Ngọc Châu - đứa trẻ sinh ra đầu tiên ở Thổ Châu sau ngày miền Nam giải phóng năm nào (sinh ngày 15-6-1992) - đã vào đất liền học tiếp lên lớp 10. Hàng chục học sinh khác của Thổ Châu cũng vào được cao đẳng, đại học.

TẤN ĐỨC

 

 

 

 

Source: Tuổi Trẻ
                    

  

Your comment

Smiley code

  • :) smiley
  • :( smiley
  • ;) smiley
  • :D smiley
  • ;;) smiley
  • :-/ smiley
  • :x smiley
  • :\ smiley
  • :p smiley
  • :* smiley
  • :O smiley

Your name
Email (is not shown)

Click here to generate new image if you can not see it.

Please input the code on above image before submit.

User comments


Back to top
MyRSS

tranthanh

209056 Views


Highlight post

< September, 2010 >
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
29 30 1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 1 2 3
4 5 6 7 8 9 10