
La rue Catinat Saigon (Tự Do) và Givral

Givral trước khi bị phá bỏ (4.2010)
Tôi ngồi lần đầu tiên tại LA PAGODE là khoảng 11 giờ trưa một ngày mùa mưa buồn năm 1971 khi đang đi lang thang trên đường Tự Do thì gặp HUỲNH HỮU ỦY, bạn quen thời còn ở Đà Nẵng, nay là chuẩn úy Tâm lý chiến. Ủy là nhà phê bình hội họa có nhiều bài đăng trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn. Tôi quen Uỷ nhân cuộc triển lãm tranh của hoạ sĩ Rừng (nhà văn Kinh Dương Vương), Vĩnh Phối và Tôn Thất Văn tại Hội Việt Mỹ, Đà Nẵng năm 1969. Sau khi triển lãm két thúc, chúng tôi có một buổi chiều thú vị ngồi với nhau trong rừng dương trên bãi biển Mỹ Khê củng với Đặng Hoà, Chu Sơn, Thái Ngọc San. Tôi xin mở một dấu ngoặc về San. San là một con người rất cẩn thận, lúc trốn lính luôn đeo chiếc cà vạt nhỏ như ống điếu để quân cảnh tưởng là giáo viên không xét giấy. San rất ngại đi xe Honda chỉ đi xe đạp để an toàn (nhưng lại chết khi đang đi xe đạp ở Huế cách nay vài năm). Lúc ngủ vài đêm tại nhà tôi để dự buổi đọc thơ do Đông Trình, Đặng Hoà tổ chức tại quán Tre góc Cao Thắng-Đống Đa, sáng nào San cũng tự giặt cà vạt, phơi cho khô rồi mới mang trông rất chín chu, nhưng hầu như tôi không thấy San tắm. Tối hôm đọc thơ San bị kiểm tra giấy tờ và bị bắt, chuẩn uý quân cảnh kiêm nhà thơ Nguyễn Nguyên Phương là người liều mạng bảo lãnh cho San ra.
Đây cũng là lần đầu tiên tôi được thưởng thức món cua rang muối, uống bia Ham. Trời hôm ấy thật đẹp với những giọt nắng cuối ngày rơi qua kẽ lá. Biển xa xa gợn những con sóng lăn tăn và vài cặp lính Mỹ-me Mỹ quấn lấy nhau. Năm 2009, tôi có về thăm lại Mỹ Khê "thay da đổi thịt", nhưng rừng dương không còn nữa mà được thay thế bằng những khách sạn và Resort. Nhà dân-Khách sạn-đường-và biển, thế là hết! Nếu có dương thì nằm trơ trọi vài gốc trong sân vườn. Khai tử rừng dương cũng có nghĩa là khai tử Mỹ Khê của một thời mơ mộng.

Hai chúng tôi vào La Pagode. Tôi kêu ly chanh rum, Ủy đến nơi đặt dàn máy nghe nhạc yêu cầu bản nhạc hòa tấu One Way Ticket rất vui nhộn. Sài Gòn thời gian này và về sau ồn ào với những bộ phim nước ngoài như Dr Zhivago, Quỉ ám, The Godfather cùng với các bộ phim trong nước như Chiều Tím (Kim Vui-Hùng Cường đóng vai chính), Loan Mắt Nhung (phỏng theo truyện dài của Nguyễn Thuỵ Long với Dũng Thanh Lâm, Trần Quang) và Yêu (phỏng theo tiểu thuyết Chu Tử do Thanh Lan và ca sĩ ốm Anh Ngọc đóng vai chính). Tam ca Thuý-Hà-Tú, nhóm nhạc Phượng Hoàng, rồi Mây Trắng (hậu thân của ban Spotlight mà tôi từng được xem biểu diễn tại sân bóng rổ trường THTT Phan Thanh Giản, Đà Nẵng lúc còn học đệ Ngũ) xen lẫn với Ca khúc Da vàng của Trịnh Công Sơn, song ca Lê Uyên Phương. Các phòng trà thì có Đêm Mầu Hồng, Jo Marcel, Tự Do, Tiếng Tơ đồng, Maxim...Triết học thì có Hố thẳm của Tư tưởng, Tư tưởng của Hố thẳm của Phạm Công Thiện. Bông hồng Cài áo, Nói với Tuổi 20 của Nhất Hạnh và Hoàng tử Bé làm cho mọi thứ nhẹ nhàng đi một chút rồi lại căng thẳng hơn với N. đã nói như thế! Guồng máy, Tội ác và Hình phạt của Dostoievsky và tiếp tục điên lên với Alexis Zorba, Con người chịu chơi của Kazanzaki và Ngày tháng Ngao du của Bùi Giáng. Trên TH thì có các ban kịch Sống (của Tuý Hồng), Vũ Đức Duy, Kim Cương, La Thoại Tân.
Cảm nghĩ đầu tiên của tôi, Givral là nơi sang trọng không hợp với túi tiền sinh viên. Quanh tôi toàn những người lịch lãm; đa số ngậm ống vố, thỉnh thoảng có vài chiếc mũ nồi, tiếng lách cách của hộp quẹt zippo. Các bà các cô thì rất điệu đàng. Còn những âm điệu toi-moi thì nhiều vô kể. Nói chung, Givral là điểm hẹn của những người trang trọng một chút, nghệ sĩ một chút; hoặc làm ra vẻ trang trọng, nghệ sĩ. Phần đông là khách ngồi thường xuyên. Lác đác có những chiếc áo lính như Uỷ. Nhà báo, nhà văn cũng có. Khách vãng lai như tôi không nhiều, và lạc lõng. Trên 250 đồng một ly cà phê sữa tại Givral trong khi bữa cơm bụi SV chỉ có 80-120 đồng. Sau đó tôi còn uống với Ủy vài lần nữa tại Givral. Thường thì có thêm Nguyễn Đức Sơn, người sống chung với Uỷ tại một ngôi nhà bốn tầng ờ đường Trần Quang Khải (giáp ngã tư Hai Bà Trưng, Yên Đỗ). Ủy thuê phòng trên tầng 2, Sơn sống du cư không trả tiền trên chuồng cu sân thượng với con chó phoóc và ánh đèn tù mù. Phòng Uỷ có rất nhiều sách qúi, đặc biệt là sách hội hoạ. Cũng như Võ Chân Cửu, Uỷ thường giận giữ than với tôi là bạn bè đến chơi, thỉnh thoảng có người "cầm nhầm" vài cuốn sách của anh. Sơn nhỏ con, hơn tuổi tôi và luôn mặc áo nâu sòng. Sơn là nhà văn với hai tập truyện ngắn nổi tiếng Cát Bụi Mệt mỏi và Cái chuồng khỉ. (Năm 2006, khi tạm chuyển nhà đi nơi khác, tôi có cho Thạch, con trai Sơn, thuê ngôi nhà cũ làm đại lý nước giải khát một năm. Khi lấy lại nhà tôi lại thuê giúp hắn ta một ngôi nhà khác gần chợ Thị nghẻ. Phượng, vợ Sơn có ghé thăm con, cho tôi một bịch trà. Hồi xưa Phượng rất đẹp nhưng nay chị già như bà cụ. Sơn có con trai tên Nguyễn Đức Vân cũng làm thơ giọng điệu như cha mình).

Từ Gival nhìn sang bên kia đường Lê Lợi là nơi diễn ra các cuộc họp báo ngắn hàng ngày của chính quyền cũ. Chắn giữa là công viên có tượng hai thủy quân lục chiến dũng mãnh trong tư thế xông thẳng vào Tòa nhà Hạ viện. Đối diện Givral trên đường Tự Do là khách sạn Continental, nơi cánh nhà báo nước ngoài và cả trong nước thường tụ tập tại cà phê hành lang để săn tin. Tại Givral tôi từng chứng kiến bác sĩ đại úy quân y dù kiêm dân biểu Phạm Văn Lương giương biểu ngữ chống tham những và dọa ném lựu đạn trước Hạ viện. BS Lương người đen, thấp bé có tham gia phòng khám bệnh miễn phí trong khuân viên trường Phan Thanh Giản, Đà Nẵng (Tôi nhớ khi về Đà Nẵng nghỉ hè năm thứ 2 có đến khám bệnh tại đây do hơi bị nhói ở ngực, BS Lương dùng ống nghe thăm dò vài nơi như radar tìm vàng rồi kết luận tôi phải mổ tim và giới thiệu một BS ở Sài gòn khám tiếp. Nhưng hoá ra tôi chỉ bị cảm thương hàn và tiếp tục sống thêm hơn 40 năm nữa sau lời phán kinh hoàng trên. Từ đó tôi hiểu rõ giá trị thực sự của phòng khám miễn phí!). Trong những ngày học quân sự học đường thỉnh thoảng tôi cũng ghé Givral tối thứ bảy về phép để giải sầu. Còn tại Brodard, bản doanh của Tướng Đức khùng, tôi từng ngồi với Hồ Đắc Ngọc (họa sĩ, trốn lính sống tại hẻm Vạn Hạnh), Trần Thế Châu, Nguyễn Văn Sinh, Đặng Khắc Nhu, Ngô Út, và các nhà thơ Trần Dzạ Lữ, Vũ Hữu Định (Định học xong khóa hạ sĩ quan Đồng Đế ghé cư xá thăm tôi và sau đó tử trận. Định hiền lành, là tác giả phần thơ của ca khúc Còn chút gì để nhớ của Phạm Duy).
Tôi xin mở ngoặc để nói về một kỷ niệm nữa với Hồ Đắc Ngọc. Lúc còn ở Đà Nẵng, tôi và Ngọc có tổ chức buổi triển lãm tranh của Ngọc tại Hội Việt Mỹ năm 1969. Ngọc có vẽ một bức tranh theo gợi ý của tôi tựa đề "Ngủ giữa rừng Hương của tình", chỉ sử dụng nguyên liệu bẳng cát pha mầu và Ngọc tặng tôi khi triển lảm kết thúc. Sau Đặng Hoà (chủ nhiệm tạp chí Nhìn Mặt của Trần Hoài Thư) từ Qui Nhơn ra xin và tôi đã giao cho Đặng Hoà giữ giùm. Khi tôi gửi Ngọc cho Trần Văn Thuận (K 11) lúc Thuận ở Thị Nghè, Ngọc vẽ bức chân dung thiếu nữ tặng tôi theo bút pháp của Nguyễn Trung. Tôi thấy không có gì xuất sắc nên giao bức tranh này cho Trần Ngọc Nhung sống chung nhà trọ sau nhà thờ Thị Nghè giữ. Lúc Nhung ở chợ Tân Định tôi vẫn thấy bức tranh nhưng không biết nay có còn không. Một kỷ niệm khác nữa của tôi với Ngọc là Ngọc có vấn đề về sinh lý nên mỗi khi đưa Ngọc đi chơi gái hắn thường khóc hu hu vì bị gái mắng "trên bảo dưới không nghe" nên dây dưa làm mấy cô nàng mất thời gian. Có lần Ngọc đi giải sầu ở một con hẻm trên đường Nguyễn Du, đối diện một ngôi chùa, tôi chờ ở ngoài, nhưng y bị gái "xiết người" do tiền trả không đủ phải nhờ tôi vào can thiệp. Mới đây, hoạ sĩ Hoàng Đặng trước chuyến đi Mỹ giao lưu hội hoạ có gọi điện cho tôi từ Đà Nẵng và tôi có hỏi về Ngọc và Vân, người tình đau khổ của Ngọc. Vân từng khóc sướt mướt trước mặt tôi nhờ tôi can thiệp để Ngọc trở về với cô. Tôi chỉ biết Ngọc và Vân đã chia tay khi Ngọc vào Sài Gòn. Nay qua Hoàng Đặng tôi mới biết cô ấy đang sống chung với Phạm Công Thiện ở Pháp và đã có con. Đây cũng là kỷ niệm không thể quên. Hiện Uỷ ở Mỹ còn Ngọc ở Hồng Kông và chuyên vẽ tranh về Phật giáo. Phương pháp vẽ của Ngoc là bôi đen hết tờ giấy láng bằng mực tầu rồi lấy bút sắt và kim gút cạo thành tranh. Rất độc đáo.
Kỷ niệm cà phê của tôi với con đường Tự Do chỉ có thế...Nơi lai vãng thường xuyên của tôi tại trung tâm Sài Gòn là quán kem Mai Hương, góc Pasteur. Phan Văn Thiện (đã chết), Trần Thế Châu, Nguyễn văn Thuận, Đào văn Đức (K11) và tôi đã ngồi nhẵn đít tại quán này.
Cafe La Pagode ngày xưa (trước năm 1954) khách tới chủ yếu là các thủy thủ Pháp sau mỗi lần chiến hạm công tác về bến Bạch Đằng, công nhân công xưởng Bason ( hải quân công xưởng). Sau này là nơi gặp gỡ uống cafe của giới thượng lưu, trí thức, sành điệu, tay chơi. Dù La Pagode ngày ấy là cơn khát một chút thượng lưu của lớp SV quê nghèo thì chắc chằn tiệm cà phê này đã để lại nhiều kỷ niệm cho nhiều lứa tuổi đã từng sống ở Saigòn, nhất là những người tha hương sau 1975, khi quay về nhìn lại cái góc phố ấy, cái tầng lầu ấy, những hàng cửa kính ấy nay đã thành một cơ sở của Saigon Tourist. Thời trai trẻ, họ đã từng có những buổi chiều cuối tuần thật đáng nhớ ở La Pagode. Từ một chỗ ngồi quen thuộc giữa quán, áp sát một cái cột mà từ vị trí này có thể nhìn ra góc của hai con đường Lê Thánh Tôn và Tự Do, chúng ta có thể nhìn Sài Gòn dần chìm vào hoàng hôn. Góc đường bên kía là công viên Chi Lăng, nơi vào giữa tháng 4.2010, người ta đã giới thiệu một công trình bề thế tại địa điểm từng là văn phòng bộ giáo dục chính quyền cũ. La Pagode "Việt hoá" thành Hương Lan một thời gian thì đến 30-4, và khai tử không lâu sau đó, ngay khi các cửa hàng sang trọng chuyển sang cách phục vụ bằng tem phiếu cho công nhân viên chức.
Tôi không thể quên được tất cả những điều liên quan đến ký ức, cái ký ức đã làm nên một Sài Gòn thật thơ, thật hiền lành với những gì người Sài Gòn day dứt trong tim. Sài Gòn, La Pagode, Crystal Palace, Passage Eden, chếc áo thời gian đã làm người Sài Gòn thổn thức vì quá khứ nay không còn nữa. Chúng ta đã đánh mất cái góc rất đẹp của hoài niệm, của thời non trẻ. Mất La Pagode với món yaourt và chiếc máy nghe nhạc. Đôi khi ta phải khóc vì nhớ, dù ta vẫn còn đâu đó trong lòng cái thành phố lãng mạn, như một buổi chiều, ta ngồi ngắm hoàng hôn với tất cả cảm xúc của những ngày còn đi học. Thời xưa cũ đã qua rồi và cái thành phố lãng mạn cũng đã không còn nguyên vẹn. Chào La Pagode!




