Welcome Guest

tranthanh's story space

   

17. Cắt nửa mảnh tình

Author tranthanh
Post at: Tuesday, January 22, 2008 - 12:29 PM

 

 

Vào đời nhà Minh, tại huyện Nhơn An thuộc xã Thọ Nhơn, có nhà họ Phan vốn giòng danh gia quà tộc, mấy đời khoa mục, nổi tiếng một gia đình hay chữ nhất đương thời.

Thừa kế nhà họ Phan ấy có chàng Phan Trung, lúc tuổi mười bốn đã nổi tiếng văn hay, chữ tốt, được mọi người ca tụng là “thức giả”.

Phan Trung tánh tình hào phóng, không thích bó thân trong chốn ruộng vườn, phiêu lưu đây đó, tìm cảnh đẹp núi non để làm thơ, vịnh nguyệt.

Thời ấy, có quan Thứ sử họ Huỳnh, biết chàng là kẻ tài ba, liền gọi về kinh bổ dụng quan chức.

Phan Trung mỉm cười nói :

— Tôi tuy nhỏ tuổi, nhưng tánh phóng đãng đã quen, bê tha biếng nhác, e không làm tròn nhiệm vụ của triều đình giao phó chăng ?

Huỳnh Thứ sử nói :

— Bậc tài ba không cứ gì lớn tuổi mới làm được việc. Vả lại, trong lúc nước nhà đang loạn, giặc cướp quấy nhiễu mọi nơi, thân trai cần phải ra gánh vác, hiền đệ cứ mãi làm thơ, uống rượu phỏng có lợi gì cho dân ?

Tuy không thích ra làm quan, nhưng cũng không dám chối từ lời của quan Thứ sử, Phan Trung gật đầu nói :

— Thưa ngài, ngài đã dạy kẻ hèn này đâu dám chẳng tuân. Nhưng kẻ này ước nguyện được làm một việc gì hợp với à thích và nhẹ nhàng một chút.

Huỳnh Thứ sử mỉm cười nói :

— Được, ta sẽ chọn cho hiền đệ một nhiệm vu hợp với khả năng. Vậy hiền đệ thích gì ?

Không cần suy nghĩ, Phan Trung đáp ngay :

— Tôi thích ngao du đây đó, ngắm cảnh đẹp quê người, không muốn ở yên một chỗ. Quan Thứ sử có việc gì hợp với à muốn tôi chăng ?

Huỳnh Thứ sử mỉm cười nói :

— Được lắm, hiện nay nơi vùng biên ải quân giặc nhiễu nhương, các vụ kiện không đòi được nhân chứng đến thẩm vấn nên đình đốn rất nhiều. Vừa rồi quan Thái sư có dâng sớ xin vua chọn một người thay mặt triều đình đến đó đòi các nhân chứng xét hỏi và quyết đoán. Việc này nếu làm được sẽ giúp ích cho dân khỏi bị hàm oan. Nhân đây ta bổ dụng hiền đệ làm chức ấy.

Phan Trung hỏi :

— Thế thì các quan phủ, huyện nơi biên ải không làm được việc ấy sao ?

Thứ sử đáp :

— Họ vẫn làm, nhưng quyền quyết đoán là nơi triều đình, họ không đủ thẩm quyền.

Phan Trung gật đầu ưng thuận.

Thế là hai hôm sau, Phan Trung cùng với tùy tùng xếp đặt hành trang, nhậm chức Phán quan đặc biệt, đi vào vùng Giang Cầu trấn đóng để làm cái việc xét xử tội nhân.

Bấy giờ vào tiết mùa thu, gió vàng heo hắc, miền rừng núi khói bụi phủ mờ, thầy trò Phan Trung phải mải miết lê chân suốt tháng trường mới đến vùng biên ải.

Tuy khổ cực, song Phan Trung không lấy làm buồn, vì tánh chàng ưa ngao du nơi đất lạ xứ người. Khi đã đến Giang Cầu, Phan Trung vào dịch xá nghỉ nơi đợi sáng hôm sau xuống thuyền đến nha huyện, vì nơi đây đường bộ bị quân giặc đón, phải đi bằng đường thủy.

Dân cư nơi đây trải mấy năm loạn lạc, khổ cực trăm bề, nhà cửa xiêu vẹo, chợ búa thưa người. Nhìn thấy cảnh điêu linh, Phan Trung không khỏi động lòng thương xót.

Cảnh đẹp trước kia đã làm cho Phan Trung cảm xúc lai láng nguồn thơ, thì nay cảnh điêu tàn ấy cũng làm cho Phan Trung bùi ngùi không kém. Nhà thơ đất Nhơn An lại phải đổ lệ dệt thơ, khóc cho cảnh đau buồn của thời loạn.

Thuyền rời bến độ nửa ngày, qua các đô thị bị cướp phá ở ven sông, không thấy bóng một người, dù là một kẻ nông phu nghèo khó. Họ sợ giặc cướp, trốn mãi vào tận làng mạc xa xăm.

Trưa hôm ấy thuyền đến chợ Cầu, nơi đây có một quán xá xiêu vẹo, đó đây vài cô hàng nước, liếc mắt nhìn đám người của Phan Trung đi trấn nhiệm, mà mặt lơ láo tưởng như trông thấy người xứ lạ nước ngoài.

Họ không mấy thiện cảm với triều đình nhà Minh, vì các quan lại nhà Minh thuở ấy phần nhiều là những tham quan lợi dụng tình thế nhiễu nhương hiếp đáp dân lành. Cuộc sống của họ hầu như xa ánh nắng mặt trời, gần với lạnh lùng hoang dại.

Những kẻ nghèo khổ không đủ sống, ăn mặc lam lũ đã đành, những kẻ giàu sang, hoặc có chút ít của tiền cũng không dám tỏ ra sang trọng. Vì sang trọng là nguy hại, không bị giặc cướp lấy của thì cũng bị quan tham sạch hách làm tiền.

Cảnh sống như thế biến người dân dù thật thà chất phát đến đâu cũng không khỏi đem lòng thán oán.

Chợ cầu lưa thưa vài túp lều xiêu vẹo làm chỗ che mưa, đụt nắng cho khách bán hàng. Người mua rải rác khắp vùng, đến đó với bộ áo vải quần nâu. Nhìn vào họ, người ta thấy ngay cảnh sống khổ cực trăm bề.

Phan Trung cho đậu thuyến sát mé, dắt vài tên tùy tùng tản bộ vào chợ để tìm thức ăn, đồng thời xem khách hàng buôn bán.

Vừa bước lên bờ, Phan Trung thoáng thấy trong đám người lam lũ, da nám nắng, quần áo ướt đẩm mồ hôi, cát bụi bám đầy kia lại có xen hai thiếu nữ vóc ngọc da ngà, cốt cách đoan trang, đứng đi kiều diễm.

Hai thiếu nữ ấy có lẽ nhà ở gần đâu đây đến mua thức ăn là phải ? Với khổ người yểu điệu, mặt trắng như ngà, môi đỏ như son, Phan Trung đoán ngay họ là gái phòng khuê, con nhà quà tộc.

Có điều lạ là, mặc dầu có được sắp đẹp khuynh thành ấy, hai thiếu nữ vẫn ăn mặc như thường dân, quần sô áo vải, giấu hẳn cái phong lưu kiều diễm bên trong.

Chàng chăm chú nhìn, theo dõi từng cử chỉ của hai thiếu nữ kia, lòng thấy như có điều gì ngờ vực.

Hai thiếu nữ vẫn thản nhiên, không biết có kẻ đang để à đến mình.

...

Phan Trung bảo :

— Ngươi ra mời bà lão ấy vào đây.

Tên lính lệ ra đi một lúc rồi trở vào thưa :

— Bà lão đi đâu mất dạng, chúng tôi tìm khắp nơi chẳng thấy đâu cả.

Phan Trung buồn bã nghĩ thầm :

— Theo lời trong thơ thì người này có à khuyên ta việc gì đây, nhưng không nói rõ. Tiếc rằng không gặp được người.

Lòng lâng lâng buồn ! Chiều hôm ấy, Phan Trung thả gót ra ngoài phố. Phố xá nơi đây tiêu điều, hàng hóa lưa thưa các món thổ sản. Các dãy nhà lầu bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn trơ lại những đống gạch vụn. Người mua kẻ bán đi lại thưa thớt.

Chàng lướt qua vài con đường, đến một quán nước kia, bỗng thấy bên trong có bóng một thiếu nữ đang ngồi ủ rũ, tóc mây buông lả, đôi mắt lệ tràn mi.

Nhìn qua một lúc, Phan Trung giật mình, vì đó là một trong hai thiếu nữ mà chàng đã trông thấy nơi chợ Cầu hôm nọ.

Nàng cũng với áo vải quần thô, nhưng dung nghi kiều diễm. Cái đẹp tìm tàng gói kín trong nếp áo quần phong trần trông rất đau thương.

Nhưng tại sao nàng khóc ? Một thắc mắc nổi lên ở cõi lòng, Phan Trung không thể nào làm lơ cất bước. Chàng quay gót bước vào quán nước gọi bà chủ quán :

— Xin bà cho tôi một bát nước trà tươi.

Gọi là uống nước, nhưng mục đích Phan Trung chỉ để dò xét thiếu nữ kia xem nàng có đau buồn gì.

Chàng nhớ lại lời tên tùy tùng bữa nọ, và biết đích nàng này tên Mỹ Dung, liền cất tiếng hỏi :

— Nếu tôi không lầm thì cô là khách hàng của quán này, tại sao có việc đau buồn ?

Mỹ Dung thở dài, lể mể quay mặt lau nước mắt, chưa kịp đáp, thì bà chủ đã đỡ lời :

— Bẩm đại quan, cha nàng bị hàm oan, quan huyện bắt giữ ở huyện đường, nên đã một tuần nay nàng đến đây tìm cách thăm viếng, nhưng huyện quan không cho vào.

Thật vậy, nàng đó chính là Mỹ Dung, con gái lớn của Trần Lão. Vừa rồi, huyện quan sai người đến bách sách, bảo phải đem nạp ba lượng vàng. Trần Lão không có đủ nên bị huyện quan ghép vào tội thông mưu với giặc, bắt giam tại huyện.

Tội nghiệm, Trần Lão già cả, gặp tiết trời đông rét mướt mà phải hảm mình nơi lao xá thật đáng thương. Thấy cha già mắc nạn, Mỹ Dung ăn ngủ không an, để đứa em gái nàng là Kim Thanh ở lại trông nom gia trang, còn nàng mang gói lần đến huyện đường thăm viếng, và tìm cách gỡ tội cho cha.

Nhưng ác thay, quan huyện Giang Cầu là kẻ tham lam độc ác, trước muốn bách sách tiền bạc, sau thấy nhan sắc diễm kiều của Mỹ Dung lại tính chuyện bẻ hoa, vì vậy ông ta giam giữ Trần Lão rất cẩn thận.

Mỹ Dung không còn biết làm sao được, vả lại không dám đến huyện đường, sợ huyện quan giở trò đê tiện. Nàng lẫn mặt ngoài phố đã quá bảy ngày, tiền bạc đã cạn mà không sao dò la được tin tức của cha già.

Đau lòng quá, nàng khóc mãi, đêm ngày bỏ ăn bỏ ngủ. May sao, vừa rồig ặp được bà lão hàng nước, khuyên nàng nên trú lại nơi quán đó.

Bà lão lại được nghe các lính huyện vào quán chuyện trò, nên biết được triều đình vừa sai một vị Phán quan đến đóng nơi đây để xét xử các việc oan ức trong vùng, bà khuyên Mỹ Dung nên nhẫn nại, để làm đơn đệ nạp vào cấp trên minh oan.

Mỹ Dung chán nãn nói :

— Các quan tại triều đình phần đông đều là kẻ không liêm chính, chỉ biết bạc vàng, xem mạng dân như cỏ rác, dẫu có kêu oan cũng chẳng ích gì.

Bà hàng nước vốn được nghe mọi người bàn tán rằng vị Phán quan của triều đình là một nhà thơ trẻ tuổi, chỉ thích thơ phú không ham bạc vàng địa vị, nên bà đặt hy vọng vào đấy, nghe ngóng, trông chờ việc làm minh chính của Phan Trung.

Nhưng đợi mãi, không thấy vị quan trẻ tuổi kia ngao du đây đó, mà cũng không hề xét xử một việc nào.

Cực chẳng đã, bà lão mới sanh ra à nghĩ, bảo Mỹ Dung viết mấy hàng chữ, để bà tự tay đem đến cho Phan Trung, giục Phan Trung làm việc.

Đó cũng là cử chỉ liều lĩnh, nếu Phan Trung là kẻ nhỏ nhen nóng giận thì bà sẽ đắc tội. Tuy nhiên, Phan Trung lại thản nhiên trước lời nói có à như dạy đời đó.

Khi Phan Trung vào quán nước, được bà lão gọi mình là đại quan, lại nói cha của Mỹ Dung bị hàm oan nhốt vào huyện đường, chàng sững sốt nói :

— Tiện chức mới đến, chưa rõ ràng việc thế nào, vả lại việc ấy còn đang tra cứu ở huyện đường, lúc nào quan huyện đệ trình sự việc lên, tiện chức sẽ xét lại.

Bà lão nói :

— Mong ơn đại quan đến đây ra ơn trời biển cho dân chúng được nhờ. Dân chúng nơi đây phần thì khổ vì giặc giã, phần bị Oan uổng vì tù đày.

Phan Trung nghe nói se lòng, liếc nhìn thiếu nữ với vẻ thương hại :

— Kẻ hèn này sẽ vì dân chúng mà tận tụy với việc làm của mình.

Dứt lời chàng từ giã bà hàng nước rồi quay chào Mỹ Dung, bước ra ngoài. Hôm sau, Phan Trung thân hành đến huyện đường, vào lao xá thăm các tù nhân. Huyện quan tiếp đón trọng lễ, và đưa Phan Trung đi dạo khắp mấy trại giam.

Trời chiều, miền núi không khí lành lạnh như trộn vào một mùi mằn mặn. Khung trời tím ngắt, cảnh đìu hiu gợi vào lòng người một mối buồn sâu xa vô tận. Trong các trại giam, tội nhân ngồi nằm la liệt, cát bụi tẩm vào áo quần dày mấy lớp, đầu này chiếu rách, đầu nọ chăn bùn, già có trẻ có, đôi mắt sâu húp chứa đầy sầu hận xa xôi.

Họ nhìn huyện quan, nhìn Phan Trung với cái gì u uất. Cảnh đó không khỏi gợi vào lòng Phan Trung mối cảm hoài.

Thật vậy, nét mặt thi sĩ họ Phan sầm lại, u buồn hơn màu tím của không gian. Chàng thở một hơi dài, lặng thinh triền miên trong à nghĩ. Giữa lúc đó, huyện quan hết mấy tên lính canh cầm roi đứng trước cổng, bảo :

— Chúng bay phải canh phòng cẩn mật, vùng này gần quân giặc, nếu để đứa nào sẩy ra, đi theo giặc, chúng bay phải thế mạng đấy.

Bọn quân canh tỏ ra đắc lực trước mắt quan trên, đứa nào cũng lăm le ngọn roi, trừng mắt nhìn vào số tù nhân như muốn ăn tươi nuốt sống họ.

Huyện quan quay lại nói với Phan Trung :

— Dân chúng vùng này ươn ngạnh lắm, nếu không trừng trị cho gắt gao, chúng theo giặc hết.

Phan Trung thở dài nói :

— Họ đã khổ mấy năm về giặc giã, triều đình bất lực không đem lại được an ninh, để họ sống trong lầm than. Nếu các quan còn không thương họ thì họ biết nương cậy vào đâu.

Lời nói ấy như một gáo nước lạnh xối vào mặt huyện quan. Huyện quan đứng lặng người đi một lúc, mặt không vui, tiễn chân Phan Trung trở lại thính đường, hối quân đem trà nước đến khoảng đãi.

Phan Trung buồn bã cáo từ trở về, và nói :

— Thôi được ! Chúng ta còn nhiều ngày gặp nhau ! Phiền huyện quan tra cứu gấp các can phạm hiện bị giam giữ nơi đây, và gởi hồ sơ sang nha tôi để tôi kịp xét lại.

Huyện quan thấy mặt Phan Trung không vui, có à sợ hãi không dám trả lời, vội tiễn đưa chàng ra đến cổng. Về đến nha sở, Phan Trung ngày đêm nghĩ đến số người lầm than, sống trong ngục thất ăn ngủ không yên. Chàng thức suốt mấy đêm, đọc kỹ các hồ sơ và ra lệnh cho huyện quan phóng thích lần hồi hết. Không một kẻ nào Phan Trung nỡ kết tội.

Qua mấy ngày, hồ sơ đã hết, Phan Trung liền viết công văn, gởi xuống các phủ, huyện trong vùng, bảo đệ nạp gấp hồ sơ cho chàng để chàng xét việc.

Thế là qua một thời gian ngắn, các nhà lao các phủ, huyện trong vùng đều trống rỗng. Chỉ vụ nào huyện đường chưa cứu xét xong thì còn lưu giam, mà vụ nào đệ lên Phan Trung thì can cứu được phóng thích ngay lập tức, bất kỳ có tội hay không.

Việc làm của Phan Trung không đứng trên pháp luật, mà đứng trên lương tri.

Các huyện quan lấy làm ngạc nhiên, thầm bảo nhau :

— Viên Phán quan này không giữ pháp luật thì làm sao trị được dân ? Nếu vậy e luật pháp triều đình bị mất hiệu lực !

Trong lúc các quan phủ, huyện thì thầm trách cứ Phan Trung thì các can phạm được tha tội thả về rất hoan hỉ, rao truyền ra ngoài dân chúng mọi sự công bình chính trực của triều đình.

Và cũng vì thế mà niềm vui trong dân gian rộn rịp, cuộc sống trở nên tươi đẹp bội phần. Họ đã mến triều đình tất ra công chống lại giặc cướp, nên giặc cướp không còn lợi dụng được lòng dân càn quét thôn quê như thuở trước nữa.

Càng yêu mến Phan Trung bao nhiêu thì dân chúng lại càng ghét bỏ các quan phủ, huyện bấy nhiêu. Thỉnh thoảng họ kéo nhau từng đoàn đến yết kiến Phan Trung và dâng tặng lễ vật.

Phan Trung tiếp đãi họ rất ân cần, nhưng tuyệt đối không nhận lễ vật một ai.

Cử chỉ của các dân chúng không khỏi làm cho các quan phủ, huyện ganh ghét Phan Trung. Tuy nhiên, vì Phan Trung là đại diện cho triều đình, chức phận cao, nên các quan phủ, huyện mặc dầu bất bình, ghen ghét cũng không dám đá động đến.

Thời gian này, Phan Trung bận lo công việc nên không bước ra khỏi nha sở. Một hôm chàng vừa cứu xong tập hồ sơ thì bỗng trước cổng có bóng người thiếu nữ đi qua lại khóc sụt sùi.

Chàng bảo quân hầu gọi vào thì đó là nàng Mỹ Dung, con gái của Trần Lão ở chợ Cầu.

Phan Trung ngạc nhiên hỏi :

— Qùa nương có việc gì buồn khổ ? Thân phụ của quà nương chưa được tha về sao ?

Mỹ Dung ấm ức đáp :

— Quan nhân đã cứu xét và tha cho nhiều người được hồi hương, nhưng thân phụ tôi vẫn còn bị hàm oan, chưa được xét đến.

Phan Trung mới nhớ ra, lục lại hồ sơ, thì thấy việc Trần Lão còn ở huyện Giang Cầu chưa đệ đến.

Chàng thở dài nói :

— Việc Trần Lão công hiện quan huyện còn cứu xét, xin quà nương nán đợi ít ngày, chừng nào huyện đường đệ nạp hồ sơ ấy, tiện chức sẽ tha cho lão trượng về.

Thiếu nữ cúi đầu, sụt sùi tạ Ơn, rồi lui ra quán nước.

Mấy hôm sau, hồ sơ Trần Lão cũng không thấy đệ nạp. Mỹ Dung nóng lòng cha già cứ thơ thẩn mãi trước cổng mà không dám vào. Phan Trung trông thấy vội viết công văn, cho người đem đến huyện Giang Cầu hỏi việc đó, thì được huyện quan trả lời là tra cứu chưa xong.

Công việc cứ đong đưa mãi, chiều nào Phan Trung cũng thấy bóng Mỹ Dung thấp thoáng trước cổng đường với dáng người buồn bã ủ ê. Chàng nóng lòng quá, đã mấy lần thảo công văn đến hỏi quan huyện cũng trả lời như thế cả, nên không biết làm sao.

Một hôm, chàng cho người đón Mỹ Dung mời vào, nói :

— Tiện chức rất lo lắng đến lão trượng nhưng vì viên tri huyện cứ giữ can nhân ở ngục thất vào ậm ự mãi nên không biết làm sao.

Mỹ Dung, đôi dòng nước mắt đọng tràn trên đôi má, nàng khóc đã hai tháng trường mà vẫn chưa vơi. Lòng thương cha già đối với nàng thật thống thiết.

Nàng nói :

— Quan huyện muốn giữ thân phụ tôi ở huyện để hạch sách tiền bạc, và tính chuyện dâm ô ! Xin quan nhân thương tình gia đình cha con tôi mà liệu giúp.

Phan Trung thở dài nói :

— Tại sao quà nương biết ,

Mỹ Dung nói :

— Thường ngày quan huyện cứ cho người đến nói với thân phụ tôi về việc kén tôi làm ái thiếp, nhưng thân phụ tôi biết quan huyện là kẻ dâm ô, một tay đã bẻ gãy chẳng biết mấy

đóa phù dung rồi, vì vậy thân phụ tôi nhất quyết không khứng. Cũng vì thế mà trước đây quan huyện đã buộc tội cho người anh tôi, bị lưu đày ra xứ khác, đến nỗi gia đình tôi phải điêu đứng suy vi. Nay chỉ còn một cha già và hai thân gái;

Phan Trung thở dài hỏi :

— Thân mẫu quà nương không còn tại thế ư ?

Mỹ Dung khóc òa :

— Mấy năm loạn lạc, mẹ tôi bị quân cướp giết mất rồi !

Cái khóc của nàng đượm vẻ héo hon, chua xót, làm cho Phan Trung chột dạ, biết bên trong có việc gì đau khổ hơn.

Phan Trung đoán như thế quả thực không lầm.

Cách đây bốn năm, tuy Mỹ Dung còn trong tuổi thiếu thời, nhưng vì nhan sắc nàng kiều diễm, chữ nghĩa tinh thông, các thanh niên trong vùng đều mê mẩn. Nhưng Trần gia là nhà danh gia vọng tộc, dễ gì những tay bất lương mong được bắn sẻ, bẻ hoa.

Phòng khuê đóng kín, gió đông không để lọt mành, nàng quyết không chịu với kẻ thấp hèn làm tri kỷ. Vì vậy, trong thôn có một chàng thừa cơ quân cướp dấy loạn, theo giặc, dùng vũ lực uy hiếp gia đình họ Trần, buộc gả Mỹ Dung cho hắn.

Thân mẫu Mỹ Dung vì ra thân chống lại giặc, bị tên giặc cướp ấy giết chết. May thay ! Tên giặc cướp ấy chẳng bao lâu đi phá phách trong vùng, bị dân chúng giết đi, nên nàng Mỹ Dung mới được an thân.

Mất mẹ là điều đau khổ đối với đứa con chí hiếu, Mỹ Dung đóng cửa cư tang, than khóc suốt ba năm trời, không lúc nào có một nụ cười trên môi. Cơn đau buồn chưa nguôi ngoai trong lòng người con gái son trẻ, thì tiếp đến quan huyện Giang Cầu trong thấy dung nhan nàng lại tìm cách bẻ hoa ghẹo nguyệt, làm khó dễ gia đình nàng.

Từ khi người anh nàng bị quan huyện biếm đày đi khỏi xứ thì gia đình nàng chỉ còn lại một cha già và hai thân gái, nàng phải đem thân phụng sự cha già. Tiền của mỗi ngày một vơi đi cho đến lúc nghèo hèn cơ cực.

Thật ra, chỉ vì tài năng và nhan sắc của Mỹ Dung đã làm cho gia đình Trần Lão khốn đốn. Nào mẹ chết, nào anh bị đày, nào cha bị tù, cũng chỉ tại nàng cả;

Nhưng nàng là một kẻ chí hiếu và đoan trang. Trời đã bắt nàng có cái sắc đẹp và tài năng để cho khuynh gia bại sản thì còn biết làm sao ?

Mỹ Dung nhiều lúc cũng nghĩ đến thân nàng, chỉ tại nàng mới gây nên cớ sự. Nàng muốn chết đi, nhưng cha già còn đó lấy ai phụng dưỡng. Bổn phận một người con chí hiếu không cho phép nàng trốn nợ đời như vậy được.

Thế là nàng đành phải sống, mà sống với những chuỗi ngày đầy thảm họa của gia đình. Nàng không còn kể gì đến sắc đẹp của nàng nữa. Đã bốn năm nay, từ khi mất mẹ, Mỹ Dung mặc toàn là quần sô áo vải, chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện lược giắt trâm cài, mặc dầu nàng là con nhà quà phiệc, đang tuổi hoa niên.

ác hại thay ! Cái đẹp con người không phải ở quần áo. Với tư cách đoan trang, nết na kiều diễm, vóc ngọc da ngà kia dẫu nàng có mặc quần sô áo vải cũng là hòn ngọc quà của thiên nhiên.

Sau khi tìm hiểu được gia cảnh của nàng, Phan Trung, chàng thi nhân đa cảm kia cũng phải động lòng thương xót. Chàng bảo :

— Xin quà nương tạm lưu lại ngoài phố, chờ ít hôm tôi đến huyện đường xem hồ sơ rồi sẽ ra lệnh miễn tố cho lão công. Chừng ấy quà nương sẽ đưa lão công trở về luôn cho tiện.

Mỹ Dung cảm tạ lui ra, tạm trú nơi quán nước như cũ. Và thấy Phan Trung có cảm tình với gia đành nàng, nàng cũng vui vui. Vì vậy một nụ cười tươi đã nở trên đôi môi đỏ mọng của nàng trước khi giã biệt.

Từ hôm đó, Phan Trung ngày nào cũng sai người sang huyện để hỏi việc Trần lão, nhưng huyện quan vẫn cứ một mặt từ chối không chịu đệ nạp hồ sơ.

Một tuần trôi qua, lòng Phan Trung buồn rười rượi. Còn Mỹ Dung thấy mình đã làm phiền Phan Trung nhiều quá, e ngại không dám đến thúc hối, và cũng chẳng dám đi ngang qua trước cổng nha nữa.

Không phải nàng e thẹn với chàng thi sĩ họ Phan, mà nàng sợ Phan Trung thấy nàng sẽ thẹn thùng vì không làm tròn được lời hứa. Về phần Phan Trung, lúc Mỹ Dung thường lui tới khóc lóc thì chàng thấy khổ tâm đã đành, mà lúc Mỹ Dung vắng bóng, chàng lại đau khổ hơn.

Chàng cho người ra phố dọ xét, vẫn không thấy bóng Mỹ Dung đâu. Té ra trong thời gian đó, Mỹ Dung nằm liệt trong quán nước, đau buồn không dậy nổi.

Thật thảm hại ! Bà hàng nước phải thường ngày cháo lao, săn sóc nàng như tình mẹ con. Không tìm được Mỹ Dung, Phan Trung đoán rằng Mỹ Dung vì quá đau buồn, không tin ở thiện à của chàng, nên đã bỏ về chợ Cầu chăng ?

Chàng thấy đau xót quá, không ăn ngủ được nữa.

Một tuần nữa trôi qua, hồ sơ huyện đường vẫn chưa đệ đến, Phan Trung lơ láo, không còn thiết đến công việc gì nữa, ngày nào cũng nằm mộp trên giường, không dậy.

Thế là cả hai người đều buồn quá đến nỗi lâm bệnh.

Một hôm gió bấc thổi về, mưa phùn lả lướt, Phan Trung nghĩ đến thân phận mình, một kẻ thay mặt triều đình đến đây cứu xét các việc của can nhân, mà không giải nổi một việc hàm oan, để cho tên quan huyện kia thao túng thì còn mặt mũi nào đứng trong thiên hạ.

Chàng hậm hực dẫn vài tên tùy tùng thẳng đến huyện đường. Trong lúc trà nước với huyện quan, chàng nói :

— Tôi nay thay mặt cho triều đình đến đây cứu xét mọi việc oan ức của dân. Tôi xét thấy vụ Trần lão bên trong có nhiều uẩn khúc, dính líu đến bản thân quà chức. Nếu quà chức không kết thúc hồ sơ gởi sang tôi xét lại, thì tôi sẽ lập tờ trình gởi về triều đình lập tức.

Cử chỉ hằn học của Phan Trung làm cho huyện quan sợ hãi, tuy lòng căm hận vô cùng.

Huyện quan đáp :

— Trần lão là kẻ tiếp tay với giặc, việc đã rõ ràng. Nếu ngài cần xét, ngày mai tôi sẽ đưa hồ sơ và can nhân đến.

Phan Trung mừng rỡ, từ tạ ra về.

Hôm sau, quả nhiên huyện quan đưa hồ sơ và Trần lão đến.

Chàng tiếp đón Trần lão rất hậu, khiến quân mua gà về làm tiệc đãi đằng Trần lão, và cho Trần lão trú tại hậu đường, đợi làm đủ giấy tờ sẽ ra về. Trần lão ở đó hai đêm, được Phan Trung đối đãi rất hậu tình không một chút gì quan khách cả.

Do đó, Trần lão rất có cảm tình đối với chàng, và thân mật như tình gia đình.

Lựa lúc vui trong câu chuyện, Trần lão hỏi đến việc gia đình :

— Quan nhân tuổi còn trẻ, đi trấn nhậm phương xa sao chẳng đem phu nhân theo ?

Phan Trung mỉm cười, tỏ thật với Trần lão :

— Cháu chỉ là kẻ bê tha phóng đãng, có chút ít học thức, thuở nay chỉ thích ngao du thi vịnh. Triều đình lầm tưởng cháu là kẻ có tài, bổ vào chức Phán quan thật hư vị.

Trần lão ôn tồn nói :

— Quan nhân là kẻ minh chánh, ở đời này ai ai cũng mến đức. Tài năng như thế còn ai dám bì, xin quan nhân chớ khiêm tốn.

Phan Trung nói :

— Cháu tuổi còn trẻ, chưa có vợ con, tuy giữ trọng trách triều đình song với tuổi nhỏ, dám đâu tự cho mình là kẻ đức hạnh.

Trần lão ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói :

— Lão nay tuổi già, có đứa con gái tuy không tài năng, xinh đẹp lắm, song cũng nên người. Nếu quan nhân không chê hèn mọn, kết duyên cùng tiện nữ, thì thật quà hóa.

Phan Trung ngẩn người ! Một niềm vui lâng lâng trong tâm hồn, chàng cảm thấy như mình sắp được một hạnh phúc vô biên.

Chàng cúi đầu bái Trần lão và nói :

— Lão công thương tình dạy như thế, cháu thật cảm nghĩa. Nhưng việc đó xin gác lại về sau. Hiện nay lão công mới được tha về, nếu có bề nào e thiên hạ dị nghị.

Trần lão nói :

— Một lời đã hứa bốn ngựa khó theo. Thời gian đâu có nghĩa gì.

Hôm sau, Trần lão lên đường hồi hương. Phan Trung cho người tìm khắp phố vẫn không gặp Mỹ Dung, nên chàng đành để Trần lão về một mình.

Từ hôm đó, lòng Phan Trung như cởi mở dưới bầu trời xuân.

Tuy nhiên, đêm ngày chàng không khỏi đem lòng nhung nhớ Mỹ Dung. Hình bóng khuê các của cô gái đoan trang kia như đã in sâu vào đáy lòng chàng một niềm ân ái, mặc dù chưa cùng Mỹ Dung trao đổi một lời nào ái ân.

Thời gian trôi trong buồn mơ, mộng ảo...

Một hôm, Phan Trung áy náy trong lòng, không biết Mỹ Dung cô gái đẹp chợ Cầu, đã trở về nhà chưa, hay đi đâu mất tích, hoặc bị tai nạn gì chăng ?

Chàng liền thu xếp một chiếc thuyền con, mướn hai tay chèo rất giỏi, vượt sóng tìm đến chợ Cầu. Hỏi thăm ra thì nhà Trần lão cách chợ Cầu không xa, dựa bên ven sông, núp sau một rừng thùy liễu rậm.

Phan Trung cho hai người chèo thuyền ở lại giữ thuyền, một mình vạch liễu tiến vào trong. Bấy giờ đã cuối đông, sắp sang xuân nên khí trờ dịu mát, không lạnh lẽo lắm. ánh hoàng hôn lần lần buông xuống, mọi vật như chìm đắm trong mộng ảo;

Nhà Trần lão là một trang viên nguy nga, trước có tường bao quanh, có cổng vào, cũng hồ sen ao cá, cũng khóm trúc chậu hoa, đượm vẻ phong quang.

Chàng lướt qua khỏi cổng, vào bên trong thì than ôi ! Những mái ngói đồ sộ kia đã rách nát, tường vôi rêu phủ, cỏ mọc đầy sân, chỉ còn lại cái mã bên ngoài, mà bên trong thì thật hoang vắng.

Qúa e ngại, chàng lần bước rẽ hoa bước vòng ra đàng sau, thì thấy nơi một ngôi nhà nhỏ trước kia làm phòng ngủ, nay được đổi lại phòng khách, có trang bày đôi chút mỹ thuật.

Một làng khói lam quyện trên mái ngói, Phan Trung đoán biết nhà có người ở, bèn lần vào gõ cửa.

Một tràng ho từ bên trong dội ra, rồi cánh cửa hé mở.

Vừa thoáng vào, Phan Trung đã tươi cười ngay, vì chính là Trần lão.

Trần lão trong thấy Phan Trung, người ân của mình, mừng quá rú lên :

— Quan nhân ! çi chao ! Ngài có dịp quá bộ đến tệ xá thật quà hóa !

Nỗi mừng vui tràn ngập trên nét mặt nhăn nheo của Trần lão khiến Phan Trung cảm động không ít.

Đoạn ông tay quay xuống dưới nhà gọi :

— Các con, hãy lên đây yết kiết ân nhân của nhà ta.

Chẳng bao lâu, từ dưới nhà có bóng xiêm y lả lướt, rồi hai thiếu nữ đẹp như hai nàng tiên bước đến. Qua ánh đèn dầu, không sáng lắm, nhưng Phan Trung đã nhận ra ngay là hai chị em Mỹ Dung !

Nhưng Mỹ Dung lúc này không ăn mặc quần sô áo vải, mà lả lướt trong bộ xiêm y màu hồng rực mùi quà phái. Vẻ đẹp không sao tả xiết.

Chẳng những chỉ có cái đẹp bên ngoài mà cái đẹp còn len lỏi vào cả tâm hồn nàng.

Kìa, khuôn mặt nõn nà, đôi mắt lóng lánh như nước suối mùa thu, đôi môi tươi như hoa nở, đã làm cho Phan Trung thấy được niềm hân hoan ấy.

Nhưng nàng hơi thẹn, vì hai gò má hơi ửng hồng.

Trần lão mở lời :

— Đây là hai tiện nữ, xin phép được gác bỏ chút ít lễ giáo để được ra chào người ân.

Phan Trung tuy là một chàng trai, song trước tình cảnh nồng nàn ấy, không biết nói lời nào.

Mỹ Dung dắt em đến trước mặt Phan Trung làm lễ, rồi hớn hở lui gót.

Nàng không còn khóc nữa. Nét hoa ủ dột trước kia đã làm Phan Trung đau lòng lâm bệnh, thì nay nét tươi vui kia cũng đã làm cho chàng lơ láo như kẻ mất hồn.

Sung sướng quá, Phan Trung nhìn cảnh đoàn tụ của cha con Trần lão mà vui lây. Chàng tự xem mình như người trong gia đình, và nói những lời tâm tình mật thiết.

Câu chuyện nồng nàn thì Mỹ Dung đã pha trà bưng lên, tự tay rót cho chàng một chén. Trần lão nâng chung đón mời. Phan Trung cùng Trần lão đối ẩm.

Bên ngoài vầng trăng bắt đầu lên khỏi núi, tỏa ánh sáng dịu hiền xuống các chậu hoa trước cửa, làm cho lòng người càng đượm tâm tình.

Chàng xin bút mực, viết một bài thơ tâm tình, rồi cất vào túi áo.

Nguyệt bán ngô đồng nhật vi ti

Độ thành huề cổ dị nan qui

Tâm tình ước cân thiên trương chi?

Đối diện phanh trà thị ngã thê

Dịch :

Trăng nửa cành ngô bóng xế tà

Đô thành tiếng trống vọng còn xa

Tình mơ khép kín ngàn trang giấy

Đối diện pha trà ấy vợ ta

Đêm ấy, bên ngoài trăng sáng, bên trong chủ khách trò chuyện mãi đến canh khuya mà câu chuyện vẫn đượm tình.

Mỹ Dung lo bày tiệc ăn uống trà rượu ngát hương. Cặp trai tài gái sắc tuy không được nói với nhau câu nào mà bốn mắt hình như đã nói lên tất cả nỗi lòng mình.

Sáng hôm sau, trước giờ giã biệt, Phan Trung nhận được bài thơ tống biệt của Mỹ Dung do Kim Thanh đưa đến như sau :

Nhứt họp xuân giao vạn là tình

Đoạn trường phương thảo đoạn trường oanh

Nguyên tương song lệ hoàn vi vũ

Minh nhựt lưu quan xuất bất hành

Dịch :

Muôn dặm tình xuân khéo để dành

Nhìn hoa đau ruột khóc cùng oanh

úớc thành mưa lệ tràn đôi mắt

Đón bạn ngày mai bước trở hành

Bài thơ này, Phan Trung biết Mỹ Dung đã viết ra trong đêm vừa rồi. Chàng nhận thơ, và trao cho Mỹ Dung một bài thơ hứa hẹn, rồi giã biệt.

Tình yêu chan chứa, Phan Trung mỗi bước một ngừng, ra đi mến tiếc như mất một vật gì trong tâm khảm.

Về đến nha sở, Phan Trung buồn bã không còn muốn làm việc gì nữa, định thu xếp về kinh, tiện đường ghé về nhà để lo tìm người mối lái đến chợ Cầu cầu hôn.

Nhưng công việc chưa xếp đặt xong, một tin đến với chàng như xét đánh.

Nguyên các quan phủ, huyện trong vùng, từ khi chàng đến trấn nhậm, mọi việc đều bị chàng cứù xét rành mạch, không còn dùng quyền riêng áp bức dân lành để bách sách tiền bạc nữa, do đó họ ngấm ngầm trong lòng tìm mưu ám hại.

Họ góp nhóp vàng bạc, lễ vật gởi về kinh, nhờ tay quan Thái sư là kẻ dua mị, biếm chức Phan Trung. Quan Thái sư được vàng bạc quá nhiều còn kể gì nghĩa nhân, liền ra lệnh cách chức Phan Trung, đòi về triều trị tội lấy cớ là Phan Trung đã ăn hối lộ của dân, thả nhiều can phạm.

Phan Trung còn trẻ tuổi, đâu có ngờ những tai vạ có thể đến cho mình trong khi xã hội bị thối nát đó.

Thế là Phan Trung bị triều đình vấn tội, đày ra chốn rừng sâu nước độc. Mộng tình tan vỡ theo khói mây ! Chàng ấp ủ tình thương nỗi nhớ trong lòng mà không biết nói cùng ai.

Từ khi Phan Trung bị biếm chức đày đi, thì giặc giã lúc một lan tràn, lửa binh chấn động khắp vùng, dân gian sống trong cảnh điêu linh khổ sở.

Chàng thi sĩ nằm bốn năm trong ngục thất, bệnh hoạn, khổ cực đủ bề, lòng ấp ủ mộng tình không lúc nào nguôi, thân xác gầy gò như một con ma đói.

Cũng may, bấy giờ có một thiếu phụ, trước kia ở trong vùng giặc cướp, gia đình bị hàm oan được Phan Trung cứu xét tha cho, nay tản cư đến ở gần vùng lao xá. Nghe tin Phan Trung bị nạn, lưu đày đến đó, nàng nhớ ân xưa, liền bỏ tiền mua chuộc tên chủ ngục để được phép vào thăm và đem đến thuốc men cơm áo.

Thiếu phụ ấy là Hồng Nương, vốn một kẻ giàu lòng từ thiện hay thương người nghèo kó. Đối với Phan Trung là người ân, lâm hoạn nạn, nàng một mặt giúp đỡ không nại khó khăn. Phan Trung nhờ đó mà qua khỏi những ngày bệnh tật trong cảnh lưu đày khổ hận.

Thời gian trôi qua, những chuổi ngày đau buồn thống thiết của chàng thi sĩ họ Phan, chẳng biết Mỹ dung có biết hay không.

Nhưng còn làm sao rõ được tin tức nữa. Trong loạn lạc, mỗi gia đình phải tản cư đi mỗi nơi lo sinh sống. Chính trong thời gian đó, cha con Trần lão phải khổ cực vô cùng. Còn nàng Mỹ Dung cũng đang mãi ôm ấp một mối tình riêng, đau buồn vô hạn.

Thời gian, không gian, hoàn cảnh đã bẻ gãy mối tình tươi đẹp của đôi trai gái Phan, Trần mà hận lòng dẫu chết cũng khó nguôi được.

Hồng Nương mấy năm trôi nổi, vẫn với nghề buôn gánh bán bưng, thỉnh thoảng vào lao xá thăm Phan Trung, và giúp đỡ thuốc men, lương thực.

Cảm nghĩa ấy, Phan Trung coi Hồng Nương như một người ân độc nhất trên đời.

May thay, qua năm năm, triều đình dẹp yên giặc cướp, có lệnh đại xá tội nhân. Phan Trung cũng ở trong số người được may mắn ấy.

Ra khỏi ngục, cuộc đời xuân xanh của Phan Trung như đã héo tàn. Trải năm năm tù tội, cha mẹ chàng vì buồn bực, lâm bệnh qua đời, gia đình chỉ còn lại anh chị em mà thôi.

Nghĩ mình là đấng nam nhi, không lập được thân, bước công danh đã lỡ, lại không được phụng dưỡng song thân tuổi già, chàng cho là bất hiếu, nên buồn bã bỏ gia đình ra đi phiêu bạt nữa.

Cũng có nhiều bạn bè biết chàng là kẻ sĩ thất thời, đem lòng thương muốn giúp đỡ để phục hồi quan chức, nhưng chàng một mặt chối từ :

— Đã lâu nay tôi sống biếng nhát quen thân, nay ra làm quan phải ngồi ở công đường đúng giờ đúng khắc, thật tôi không chịu nổi.

Thật ra Phan Trung đã chán đời quan hoạn, không muốn bước vào con đường mà bùn lầy đã nhuộm cả cuộc đời chàng.

Phan Trung tìm đến một thành phố thuê một túp lều tranh, dạy năm ba đứa học trò và viết mướn để độ nhật. Nhưng không đủ sống ! Hồng Nương được tin lại phải đến thăm viếng và đem tiền bạc đến giúp.

Ba năm trôi qua trong đau ốm, Hồng Nương phải chạy chữa săn sóc chàng. Sau đó, Hồng Nương thấy Phan Trung cô độc lại đem đứa cháu mình đến ở chung với Phan Trung. Và mỗi tháng, nàng đến thăm, có lúc ở với chàng mười bữa, nửa tháng rồi mới ra đi.

Dân chúng trong vùng thấy cảnh ấy, gọi Hồng Nương là vợ chàng, và Phan Trung cũng chẳng thèm cải chính.

May thay, nghề viết mướn của Phan Trung mỗi lúc một phát đạt, được thiên hạ ca tụng nhiều, do đó chàng đắt mối, kiếm được tiền bạc cũng khá, chàng tậu được ngôi nhà xấu xấu, và sống cuộc sống cũng đỡ cơ cực như thuở hàn vi.

Bỗng một hôm, chàng được người bạn quen thuở nhỏ đến thăm, cho biết cha con Trần lão hiện nay trở nên giàu có, hiện đang sống phong lưu, và nàng Mỹ Dung vẫn sống độc thân, chưa hề xe duyên tơ tóc.

Nghe tin ấy, Phan Trung nghĩ đến tình xưa, động lòng thở dài :

— çi ! Đã mười năm mà nàng vẫn chịu cảnh phòng the chích bóng sao ! Nàng vì tôi mà sống như thế ư ?

Người bạn của Phan Trung là Đà Lê, vốn kẻ chân thành, biết mối duyên tình của chàng thuở trước, nên ái ngại nhìn chàng nói :

— Nếu không vì quà huynh thì nàng đã thành gia thất lâu rồi, vì nàng là gái khuê môn, nết na đứng đắn, gần đây lại cao sang, thiếu gì kẻ gắm ghé trương cung bắn sẻ.

Phan Trung mơ màng nói :

— Trải mười năm... Đến nay nàng cũng đã lớn tuổi rồi nhỉ.

Đà Lê mỉm cười :

— Đúng vậy ! Nàng đã lớn tuổi nhưng sắc đẹp vẫn chưa phai, nét diễm kiều vẫn như thuở nào.

Phan Trung buồn bã hỏi :

— Lê huynh, anh có biết cuộc sống của gia đình nàng qua mười năm như thế nào không?

Đà Lê đáp :

— Trước kia thì gia đình nàng khổ cực lắm, nhưng ba năm nay, Trần Tự Thiên, anh của nàng, được phục hồi quan chức, gia đình nàng sống rất mực phong phú.

Phan Trung gật đầu :

— Tôi có nghe Trần Tự Thiên là một người văn học, lược thao gồm tài, được triều đình tái bổ cũng phải. Nhưng hiện thời gia đình nàng ở đâu ?

— Đang ở nơi đô thị này;

Phan Trung trố mắt nhìn bạn :

— Thật thế sao ? Còn nhà ở chợ Cầu ?

Đà Lê giảng giải :

— Tự Thiên vừa bổ nhậm đến đây nên đem cả gia đình đến nha đở. Riêng Trần lão và Mỹ Dung thì vừa đến đây để thăm Tự Thiên.

Phan Trung gật đầu :

— Lê huynh biết rõ như thế à ?

Đà Lê đáp :

— Tôi vừa đến thăm Tự Thiên hôm qua, có gặp Trần lão, và cả nàng Mỹ Dung ở đấy nữa.

Phan Trung ngắt lời bạn :

— Lê huynh có nói là hiện tôi sinh sống nơi đây chăng ?

— Có ! Nhưng không chỉ nhà ! Trần lão ước mong được gặp mặt Phan huynh để thăm viếng.

Phan Trung thở dài :

— Mình đang trong lúc nghèo khổ quá !

Đà Lê ngắt lời bạn :

— Phan huynh đừng nghĩ thế. Trần lão vẫn nhớ ân Phan huynh và tình nghĩa thuở nào vẫn không phai !

Phan Trung bùi ngùi nói :

— Lê huynh, anh biết chắc Mỹ Dung vẫn chưa xe duyên với ai chớ ?

Đà Lê thở dài :

— Chắc chắn như vậy ! Nhưng... Phan huynh hình như... đã có vợ !

Phan Trung nghẹn ngào, không biết phải nói sao, nhìn bạn nói vu vơ :

— à, tôi... có vợ...

Lời nói chàng như ngất nghẹn ! Mặc dù là bạn thân, Phan Trung không đủ can đảm bày tỏ hoàn cảnh riêng của mình.

Qua một phút yên lặng, Đà Lê nói :

— Anh cũng nên đến thăm Trần lão một bữa.

Phan Trung như sực tỉnh hỏi lại :

— Tôi có nên đến thăm không, Lê huynh ?

— Nên lắm, vì Trần lão là kẻ ân hậu kia mà !

ấp úng một lúc, Phan Trung như nói một mình :

— Nhưng nàng tưởng tôi có vợ...

Đôi bạn nhìn nhau không ai nói gì thêm, Đà Lê từ giã bạn.

Cách mấy hôm sau, Phan Trung đến thăm Trần lão. Tình nhớ nhung nồng nàn vẫn thắm thiết như xưa, nhưng việc hôn nhân hình như không ai dám nhắc đến.

Tuy nhiên, Phan Trung không khỏi khâm phục Trần lão là người chung thủy, thâm hậu.

Cuộc thăm viếng chỉ mang lại cho Phan Trung những đau buồn. Nhất là đối với Mỹ Dung, nàng làm sao hiểu nổi tâm trạng của chàng được.

Tâm hồn của Phan Trung đang trầm lặng bỗng nhiên gợi sóng. Rồi bỗng một hôm, vào tiết đầu xuân, Mỹ Dung tìm đến thăm chàng.

Thật vậy, như lời Đà Lê đã nói, tuy nàng lớn tuổi, nét diễm kiều không phai nhạt trong gió bụi của thời gian.

Bàn tay thon ngón nhỏ này xưa, nàng đã rót trà đưa mời Phan Trung uống, thì nay vẫn còn dịu dàng óng chuốc. Nàng bưng chung trà nhìn Phan Trung hỏi :

— Anh đã có vợ rồi sao ?

Phan Trung luống cuống một lúc, rồi ú ớ :

— Vâng, tôi đã có vợ... nhưng...

Mỹ Dung nhoẻn một nụ cười làm cho Phan Trung nóng cháy cả mặt mày.

Nàng xin giã biệt !

Phan Trung tiễn nàng ra cổng lòng thấy bồi hồi, nhìn bầu trời tím ngắt.

Đợi cho mỹ nhân khuất bóng chàng mới bước vào, cầm bút viết mấy vần thơ !

Hữu duyên thiên là năng tương ngô.

Vô duyên đối diện bất tương phùng

ẩm ngã trà hề hoàn ngã trảng

Đô thành huề cổ dĩ chinh đông

Dịch :

Có duyên ngàn dặm xa càng gặp

Vô duyên tận mặt vẫn cách lòng

Uống trà xin trả ly không

Đô thành trống đã thì thùng về trưa 

Source: Sưu tầm
                    
Previous chapter
  

Next chapter of this story is splitted into these branches

18. Người bán dầu chiếm trọn nàng hoa

Posted at Tuesday, January 22, 2008 - 12:33 PM

Your comment

Smiley code

  • :) smiley
  • :( smiley
  • ;) smiley
  • :D smiley
  • ;;) smiley
  • :-/ smiley
  • :x smiley
  • :\ smiley
  • :p smiley
  • :* smiley
  • :O smiley

Your name
Email (is not shown)

Click here to generate new image if you can not see it.

Please input the code on above image before submit.

User comments


Back to top
MyRSS

tranthanh

107637 Views


Highlight post

< January, 2009 >
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
28 29 30 1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31 1
2 3 4 5 6 7 8